PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa
Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Những gì chưa trả được thì người ta gọi là nợ. Lịch sử là nhiều
điều chúng ta đã biết và vô vàn ẩn số mà chúng ta chưa biết, những sự
thật ấy nếu được nghiên cứu và phổ biến một cách trung thực có thể giúp
người đời sau hiểu quy luật hưng thịnh của các dân tộc. Năm 1946, chúng
ta đã có một bản hiến văn dân chủ vào loại bậc nhất Đông Nam châu Á lúc
bấy giờ. Chỉ có điều, nhiều sự thật liên quan đến bản hiến văn ấy dường
như vẫn chưa được soi rọi một cách đầy đủ. Bản tham luận ngắn dưới đây
góp phần bàn luận một cách tản mạn ba khía cạnh vẫn chưa được nghiên cứu
một cách thấu đáo liên quan đến Hiến pháp 1946.
Thứ nhất, Hồ Chí Minh – một người cộng sản
đã từng làm việc cho Đệ tam quốc tế, chắc chắn ít hay nhiều phải chịu
các ảnh hưởng lập pháp đã diễn ra thời đó tại Liên Xô. Từ Hiến pháp ngày
31-01-1924 với nhiều tư tưởng của Lênin, Liên Xô đã bước sang thời kỳ
của Hiến pháp ngày 1-6-1936 với ảnh hưởng đáng kể của Stalin. Bản Hiến
pháp 1936 ghi nhận vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản, ghi nhận
sở hữu xã hội chủ nghĩa, hệ thống nông trang kiểu hợp tác xã Kolchos
(nông trường) được xác lập. Trong đầu năm 1937, các nước cộng hòa thuộc
Liên Xô đã thông qua các bản hiến văn theo mô hình kể trên[1].
Điều thú vị là tất cả 70 điều của Hiến pháp 1946 của Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa đều ít có bóng dáng của Hiến pháp Liên Xô 1936. Thậm chí so
với những gì đã diễn ra trong lịch sử pháp luật ở Trung Hoa lục địa sau
khi Đảng Cộng Sản thâu tóm quyền lực quốc gia năm 1949, người ta vẫn
thấy bản hiến văn năm 1946 của Việt Nam chứa đựng những tư tưởng dân chủ
hơn hẳn. Người ta thấy những dấu hiệu phân chia và đối trọng quyền lực,
thấy rõ thái độ thượng tôn và tiếp nối truyền thống tư pháp đã có từ
thời thực dân, chứ tuyệt nhiên không phủ nhận và xây mới hoàn toàn như
Mao Trạch Đông đã làm với hệ thống pháp luật dưới thời Quốc dân Đảng.
Nhiều người giải thích bản hiến văn 1946 như một thỏa hiệp cho giai đoạn
dân chủ nhân dân, một bước đệm cho cuộc cách mạng vô sản sẽ diễn ra sau
đó. Đó là sự suy diễn lôgích một chiều, thường là của các nhà soạn sử
khi Đảng đã có thực quyền. Người ta cũng có thể giải thích bởi những
đóng góp của nhân sĩ yêu nước không phải là cộng sản đã được tập hợp
dưới ngọn cờ độc lập dân tộc vào việc soạn thảo bản hiến văn này. Cũng
có thể do mối quan hệ cá nhân giữa các lãnh tụ Hồ Chí Minh và Stalin,
hoặc do mối quan tâm không đáng kể của Stalin đến khu vực Đông Dương,
tất cả những ẩn số đó có thể giải thích thêm cho sự thật rằng Hiến pháp
1946 rất ít chịu ảnh hưởng của Liên Xô.
Thứ hai, Có thể thấy những bước đi chập
chững đầu tiên của Việt Minh và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa lại có sự góp mặt và chứng kiến đáng kể của người Mỹ. Những dấu ấn
của chúng có thể thấy ở Tuyên ngôn độc lập và bản Hiến văn năm 1946.
Điều này ít được nhắc đến trong sử liệu của Việt Nam. Chỉ tiếc rằng, sau
cái chết của Roosevelt vào tháng 4 – 1945, chính quyền Mỹ đã nhân
nhượng đáng kể quyền lợi của thực dân, thậm chí công khai đứng sau các
thế lực thực dân để đàn áp các lực lượng kháng chiến ở Việt Nam[2]. Đây
là một bi kịch lớn, có lẽ chẳng riêng cho người Mỹ. Người ta thấy vai
trò và quyền lực của chủ tịch nước rất lớn, điều này đã giảm đi rất đáng
kể trong các bản hiến văn theo mô hình Xôviết sau này. Những vấn đề này
dường như giới sử học Việt Nam còn ít quan tâm. Nước nhỏ, dân tộc nhỏ
có thể hiểu thêm lịch sử của chính trong mối tương quan quyền lực giữa
các nước lớn.
Thứ ba, bản Hiến pháp 1946 được thông qua
chỉ có hơn một tháng trước ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, người
Pháp bắt đầu cuộc đàn áp vũ lực. Khi ấy quân Tưởng đã rút, mâu thuẫn đôi
khi đẫm máu giữa Quốc dân Đảng và Việt Minh dường như cũng đã được dẹp
sang một bên, người ta đã thấy xu hướng chính phủ kháng chiến dường như
hoàn toàn do Đảng Cộng sản kiểm soát. Từ đây xuất hiện câu hỏi liệu bản
hiến văn này có còn giá trị ngay trong thời kỳ kháng chiến và thực sự
những người cầm quyền có muốn tuân thủ nó hay không. Để trả lời câu hỏi
này cần tìm hiểu xem bản hiến pháp này tuy đã được Quốc hội thông qua,
song có kịp được công bố hay chưa, đã được nhân dân phúc quyết hay chưa
(Điều 21, 32, 70 Hiến pháp 1946). Nói theo ngôn ngữ mác-xít, các tiền đề
chính trị-xã hội đã không còn tồn tại để bản hiến văn năm 1946 có thể
có hiệu lực ngay sau khi nó vừa được ban hành. Bản hiến văn ấy chưa từng
được sửa theo cách thức mà nó đề nghị; nó đã bị thay thế bởi những
tuyên bố chính trị khác.
Người Việt Nam đã có ít nhất bốn bản hiến pháp (nếu không kể tới các
bản hiến pháp của chính quyền Sài Gòn). Vậy mà dân tộc ta dường như vẫn
chưa được làm quen với tư tưởng lập hiến. Hiến pháp 1946 đã có thể là
một bản khế ước tốt để ràng buộc và khống chế công bộc với lợi ích của
ông chủ nhân dân. Nó chỉ lóe lên như một ánh chớp trong đêm trước lúc
kháng chiến bùng nổ, điều đó dường như nó ít được thực thi trên thực tế.
Chỉ khi bàn nhiều về chủ quyền nhân dân, người ta bỗng nhớ tới bản hiến
văn này với những ước mong và hoài niệm.
[1]. Barabaschew, 1980, Cobetckoe Rocydapctbehhoe Nprabo, Staatsrecht der UdSSR, Staatsverlag der DDR, Berlin, 1982.
[2]. G Herring, 1986, America’s Longest War, The United States and VietNam.