Chiến tranh Việt Nam đã lại để lại hàng triệu goá phụ, và những đứa
con côi cút bị mất cha, lìa mẹ. Có người tiếp tục bước thêm bước nữa để
tìm hạnh phúc mới, nhưng nhiều người đã ôm con, thờ chồng, sống cuộc đời
phòng không, chiếc bóng từ khi tóc hãy còn xanh.
Họ là những cánh hoa thời loạn ly bị cuốn đi trong cơn giông bão của
chiến tranh. Những tấm gương trung kiên, hy sinh thầm lặng mà không hề
nhận được huy chương, không một bó hoa và tên của họ cũng không bao giờ
được khắc trên bia đá để nhiều người tưởng nhớ.
Những nỗi buồn câm lặng
Trong chương trình hôm nay, nhân kỷ niệm ngày 30 tháng 4 năm 1975,
tôi xin gởi đến quý thính giả hình ảnh của những goá phụ đáng kính mà
chiếc bóng cô đơn của họ đã ẩn sâu sau những bức tường của những căn nhà
hiu quạnh với những nỗi buồn câm lặng, chịu đựng một cách can trường.
Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt cách đây 38 năm, nhà cửa đã mọc lên
thay cho những hố bom. Những cánh đồng hoang lúa đã trổ bông. Cây đã nở
hoa. Rừng xanh bao lần thay lá. Nhưng vết thương lòng của nhiều thế hệ
vẫn còn rỉ máu. Lòng người vẫn chia cắt, ý thức hệ vẫn còn là một hố sâu
ngăn cách chưa thể hàn gắn. Người dân trong nước vẫn chưa có cuộc sống
bình yên, chưa tìm được tự do, hạnh phúc thật sự.
Đã có rất nhiều tài liệu, sách vở viết về "Cuộc chiến Việt Nam”.Tất
cả đều cho rằng đây là cuộc chiến tranh khốc liệt, đẫm máu và đầy nước
mắt. Nhưng con số thương vong chính xác vẫn chưa thống kê một cách đầy
đủ. Theo Tổ chức Vietnam Agent Orange Relief & Resposibility Campain
có trụ sở tại New York cung cấp thì có khoảng 4 triệu người Việt Nam
của hai bên đã thiệt mạng, bị thương, hoặc mất tích trong giai đoạn
1965-1975. Riêng quân đội Hoa Kỳ đã có 58,151 người hy sinh trên chiến
trường miền Nam Việt Nam. (*)
Chỉ riêng tại Miền Nam đã có 800.000 trẻ em mồ côi. Hàng triệu goá phụ và ít nhất 10 triệu người trở thành vô gia cư (**).
Những câu chuyện về cuộc đời của những goá phụ là những nỗi thống khổ
và sự mất mát của họ đã vượt qua không gian và thời gian. Làm thế nào
họ thích ứng sau đó và bây giờ? Làm thế nào họ được an ủi, hỗ trợ, hoặc
những gì họ đã cố gắng tìm kiếm để tạo dựng lại cuộc sống, tìm cho mình
và các con một tương lai hạnh phúc mới. Tất cả điều đó đã được khám phá
trong những câu chuyện bi thảm dần dần được hé mở. Những bi kịch, đổ vỡ
trong trái tim và cuộc đời họ rất thầm lặng như một mạch nước ngầm thấm
sâu trong lòng đất.
Sau năm 1975, cộng sản đã đưa hơn 1 triệu dân quân cán chính VNCH đi
học tập cải tạo. Có người đã được trở về sum họp gia đình. Nhưng có
165.000 người đã chết trong nhà tù cộng sản. (***) Miền Nam lại có thêm
những goá phụ với cõi lòng tan nát. Tôi được tiếp xúc với bà Trần Thanh
Minh, người goá phụ có chồng là Giảng Viên Tâm Lý Chiến tại trường Võ Bị
Đà Lạt, bị cộng sản bắt giam và ông đã chết trong tù. Bà một mình phải
nuôi bốn đứa con nhỏ, cháu lớn nhất mới vừa 6 tuổi và cháu nhỏ nhất mới
vài tháng tuổi. Bà đã kể lại hoàn cảnh của mẹ con bà sau cái chết của
chồng:
Thế là xong, là tuyệt vọng cả đời. Lúc đó, tôi sống cũng như chết rồi….
- Bà Trần Thanh Minh
“Ông xã tôi ra đi lúc đó tôi mới có 35 tuổi. Nhưng mà sau 20 năm ở
lại với bao nhiêu những đau khổ, vật lộn với miếng ăn. Tôi đã đi bán
bánh tôm, bánh cuốn ở Hồ Con Rùa. Tôi đã đi chạy thuốc tây. Tôi đã bán
quà cho học trò ở trong những căng-tin trong trường. Có thể nói rằng ai
sai cái gì làm cái đó. Mình làm hết cái khả năng của mình cũng không đủ
nuôi con. Cho nên cái mong ước lúc bấy giờ, tôi chỉ cầu xin làm sao cho
các con tôi đủ ăn, sống một cuộc đời không phải đói rét.”
Trong bài hồi ký “Chuyện Buồn Người Vợ Tù” bà đã viết “Thế là xong, là tuyệt vọng cả đời. Lúc đó, tôi sống cũng như chết rồi….” Bà đã kể thảm cảnh chết đói của chồng khi đi học tập cải tạo tại Miền Bắc với tâm trạng bồi hồi và xúc động:
“Cô Phong Thu biết tù cải tạo không tức là họ đưa đi vào rừng vào
núi để làm một cái nhà tù lớn để ở trong đó lao động cuốc đất, trồng
cây. Nhưng mà hơn một năm trời không có tin tức gì hết. Sau đó là nhà
nước cho đi thăm nuôi. Nhưng tôi không được may mắn hơn mọi người. Khi ở
trong Nam là còn được đi thăm. Nhưng khi họ chuyển nhà tôi đi ra Bắc.
Tôi ra tới chỗ mới biết chồng tôi đã chết ở Vinh, Nghệ Tĩnh. Theo lời
các anh kể lại là lúc bấy giờ không có ăn phải ăn lá cây chín ngày,
không thuốc men là phải chết thôi. Tôi nghĩ là không thể nào quên được
hết cái cảm giác trước khi tôi gục xuống thì tôi thấy như là có vật gì
nó đập vào tôi, tối đen và có ánh sáng li ti phát ra. Tôi ngất đi.”
Khi tôi hỏi bà suy nghĩ gì về cuộc chiến đã qua và bà có ý kiến gì
với chính sách cai trị của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội. Bà chỉ buồn bã
nói:
“Chuyện đã qua thì tôi không có chính trị cho nên tôi cũng chẳng
có ý kiến gì nhưng tôi không đồng ý với những chính sách mới là tại sao
cứ phải làm khổ nhau? Tại sao không dùng những chất xám, những bộ óc
siêu việt để mà xây dựng lại đàng này lại đem người ta vào rừng sâu,
nước độc rồi để cho người ta đói khát chết dần, chết mòn. Rồi để cho vợ
con người ta khổ sở đi kinh tế mới. Không có một gia đình nào tôi thấy
trọn vẹn hết. Người ta cố đi tìm tự do. Tại sao người ta phải đi tìm? Vì
người ta khổ quá. Người ta không có ăn. Sống không được nói. Lúc nào
cũng bị kiềm kẹp, lúc nào cũng lo sợ. Thành ra chính tôi đã dẫn những
đứa con tôi đi vượt biên.”
Bà đã đưa các con đi vượt biên 20 lần nhưng không thoát và phải đi tù
nhiều lần. Trong nhà tù đói khát và hết sức khủng khiếp mà cho đến nay
đã mấy chục năm bà vẫn không bao giờ quên.
Vết thương lòng còn mãi
Giáo Sư Pauline Laurent, tác giả cuốn Grief Denied - A Vietnam Widow's Story. Photo courtesy of griefdenied.com
Ngay cả trong lòng xã hội Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt 40 năm nhưng nỗi ám ảnh vẫn chưa thực sự kết thúc.
Tôi có dịp trao đổi với Giáo Sư Pauline Laurent, tác giả quyển sách
nổi tiếng “Nỗi Buồn bị Từ Chối- Câu chuyện về người goá phụ trong chiến
tranh Việt Nam.” Grief Denied - A Vietnam Widow's Story). Bà đã kể cho
tôi nghe câu chuyện cảm động về cuộc đời bà:
“Chồng tôi tên là Sgt. Howard E. Querry chết trong cuộc tấn công
Mini- Tết vào ngày 10 tháng 5 năm 1968. Đó là tuần lễ mà nhiều người
lính Mỹ tử trận nhiều nhất trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam.
Lúc đó, tôi mới 22 tuổi, đang mang thai đứa con đầu lòng được 7
tháng. Đơn vị anh đến gõ cửa và báo cho tôi biết chồng tôi đã hy sinh
tại một thành phố gần Sài Gòn. Thi hài anh được đưa trở lại Hoa Kỳ hai
tuần sau đó. Họ không cho tôi được mở nắp quan tài để nhìn anh một lần
sau cùng. Thật khó khăn biết bao khi tôi chôn cất anh mà không được nhìn
thấy thi thể của anh. Chúng tôi đã làm lễ chôn cất anh tại nhà thờ mà
cách đây một năm chúng tôi đã làm lễ cưới tại đây. Chúng tôi cưới nhau
vào tháng 9 năm 1967, anh hy sinh vào tháng 5 năm 1968, con gái tôi được
sinh ra vào tháng 7 năm 1968.”
Trẻ trung, thông minh, xinh đẹp và có một địa vị xã hội cao, nhưng bà
Pauline đã không tái giá. Bà sống một mình nuôi con với sự an ủi, trợ
giúp của cha mẹ và gia đình. Trái tim bà không còn rung động lần thứ hai
vì cảm xúc yêu thương đã chết từ khi chiếc quan tài của người chồng
thân yêu chôn sâu trong lòng đất. Bà đã bị bịnh trầm cảm nhiều năm bởi
nỗi buồn của bà không được lộ ra ngoài, không có ai chia sẻ. Bà nói:
“Tôi chưa bao giờ lập gia đình lần thứ hai. Trái tim tôi đã tan vỡ
và không bao giờ còn chữa lành được vết thương kể từ khi anh qua đời và
lúc đó tôi còn quá trẻ. Tình yêu đó vẫn chưa tan trong tim tôi. Tôi
cũng có quen một vài người đàn ông sau này nhưng chưa ai làm cho tôi
rung động và dẫn đến quyết định kết hôn và chung sống với họ. Không bao
giờ tôi tìm được người đàn ông nào tuyệt vời như chồng tôi. Và anh cũng
yêu tôi biết bao. Tôi sống chung với một vài người bạn gái nhưng chưa
bao giờ chung sống với bất cứ người đàn ông nào.”
Sau đó, bà đã viết sách để bày tỏ nỗi lòng của mình. Đó là giải pháp
để bà tự chữa lành vết thương, giải thoát cho bà ra khỏi sự im lặng, nỗi
buồn dai dẳng và bà đã nhiều lần có ý định tự sát. Bà tâm sự:
“Tôi đã bỏ ra 10 năm để viết quyển sách (Grief Denied-A Vietnam
Widow's Story - Nỗi Buồn Bị Từ Chối - Câu chuyện của một goá phụ trong
cuộc chiến tranh Việt Nam”).Tôi bắt đầu viết khi tôi rơi vào trạng thái
đau khổ, buồn chán và muốn tự sát. Tôi không thể tự kết liễu đời mình vì
tôi còn nghĩ đến con gái của tôi. Quyển sách của tôi đang bán tại
website: http://www.griefdenied.com. Nó cũng bán trên Amazon.com.
Nội dung quyển sách nói về chuyện tại sao tôi im lặng, chịu đựng
suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, và tôi muốn nói cho mọi người hiểu những
đau khổ của những người phụ nữ có chồng là một người lính Mỹ đã tử
trận. Tôi cũng muốn nói cho mọi người biết làm thế nào để tự chữa lành
vết thương trong trái tim mình. Phần sau cùng của quyển sách là niềm vui
của tôi khi Alexis Monhoff, đứa cháu trai đầu tiên của tôi ra đời.”
Tôi chưa bao giờ lập gia đình lần thứ hai. Trái tim tôi đã tan vỡ và không bao giờ còn chữa lành được vết thương kể từ khi anh qua đời và lúc đó tôi còn quá trẻ. Tình yêu đó vẫn chưa tan trong tim tôi.
- Giáo Sư Pauline Laurent
Còn nỗi lòng của bà Trần Thanh Minh thì sao? Bà đang mơ ước những gì
vào cuối cuộc đời sau biết bao bể dâu, cay đắng? Bà đã viết rằng “Tôi
chắc chồng tôi cũng nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đi với anh. Chúng
tôi phải nối tiếp lại những ngày hạnh phúc ngắn ngủi xa xưa. Tôi không
thể sống mãi trong cô đơn để run sợ trước những ám ảnh của dĩ vãng và
những nhung nhớ khôn nguôi người chồng mà tôi mãi mãi yêu thương như
buổi đầu gặp gỡ” (Trích trong bài hồi ký “Chuyện Buồn Người Vợ Tù của bà Trần Thanh Minh). Bà tâm sự:
“Những người Mỹ nhân đạo đã đưa mẹ con tôi qua đây theo diện HO.
Gia đình có người chết trong trại cải tạo thì họ cho tôi đi. Mẹ con
chúng tôi qua đây được mười mấy năm. Cuộc sống rất là ổn định. Các cháu
học hành thành tài, có gia đình hạnh phúc. Lúc này, tôi chẳng còn mơ ước
gì hơn là mình sẵn sàng ra đi. Cũng hy vọng là ra đi để được đoàn tụ
với người chồng mà tôi chỉ được chung sống có năm năm. Đó là nguyện ước
cuối cùng của tôi. Tại vì sống ở trên đời này, mình không tìm thêm được
một nửa người của mình nữa thành ra mình hy vọng nếu có thế giới bên kia
thì mình sẽ được gặp lại phải không cô Phong Thu.”
Tôi cũng hỏi bà Pauline về niềm hy vọng cho những goá phụ Việt Nam và
Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt nam, bà Pauline không nói gì về thù
hận. Bằng một tấm lòng đầy vị tha và đầy tình người. Bà nói:
“Tôi rất đau buồn cho người Mỹ cũng như người Việt Nam về những gì
đã diễn ra. Bởi vì người Mỹ không có ai nói về cuộc chiến tranh Việt
Nam cho nên vết thương lòng không thể hàn gắn lại được. Hãy tiếp tục tự
chữa lành những vết thương lòng và hãy tha thứ, quên đi những bi kịch đau buồn của cuộc chiến tranh đó. Vì nó đã gây ra đau thương cho rất nhiều người, cả người Mỹ và người Việt Nam.”
Người chết là hết. Họ trở về với cát bụi. Nhưng người còn sống luôn khắc khoải, sống trong nỗi tuyệt vọng, nhung nhớ và đón nhận mọi giông bão của cuộc đời.
Người chết là hết. Họ trở về với cát bụi. Nhưng người còn sống luôn khắc khoải, sống trong nỗi tuyệt vọng, nhung nhớ và đón nhận mọi giông bão của cuộc đời.
Xin dành một vòng hoa đẹp nhất, trang trọng nhất để vinh danh những
người mẹ, những người vợ đã hy sinh thầm lặng một đời để thờ chồng và
nuôi các con khôn lớn. Tình yêu của họ là một viên ngọc quý báu để người
đời suy gẫm và biết trân trọng hạnh phúc mà mình đang có trong tay./.
Tài liệu tham khảo:
Những tài liệu liên quan:
Chiến tranh Việt Nam, © 1996 bởi Paul Shannon. Với một số cập nhật. Tháng 4 năm 2000.
Ngô Vĩnh Long, trong "Triển vọng Việt Nam," Bách khoa toàn thư của chiến tranh Việt Nam, ed. Stanley Kutler (New York: Scribner, 1996)
Vietnam Agent Orange Relief& Responsibility Campaign • P.O. Box 303 Prince Station, New York, NY 10009 )
Ngô Vĩnh Long, trong "Triển vọng Việt Nam," Bách khoa toàn thư của chiến tranh Việt Nam, ed. Stanley Kutler (New York: Scribner, 1996)
Vietnam Agent Orange Relief& Responsibility Campaign • P.O. Box 303 Prince Station, New York, NY 10009 )