Bình luận của blogger Trịnh Hự: Với việc tổ chức mô hình nhà nước như trong dự thảo Hiến pháp, đừng cố đặt thêm cái đuôi chính thể nào vào tên nước, vì loài người chưa phát minh ra khái niệm nào để gọi tên mô hình đó cả.
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: cái này bỏ là đúng, ai biết XHCN là gì?
Việt Nam dân chủ cộng hòa: cái này không đúng nốt, đã khẳng định Đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội thì không thể gọi là "dân chủ cộng hòa" được. Nếu ai đó muốn gọi theo cái tên này vì nó có từ thời lập nền cộng hòa năm 1945 và do Bác Hồ đặt (?), thì phải lưu ý là Hiến pháp 1946 không quy định Đảng nào lãnh đạo nhà nước và xã hội. Lắp râu 46 cắm cằm 13 thì trông nó không vui. Nếu muốn quay về Hiến pháp 46 thì quay cả, quay mỗi cái tên thì cũng không vui.
Chi bằng cứ gọi đơn giản là "Việt Nam" theo đề xuất của bác nào đấy. Rồi sau các nhà lãnh đạo muốn làm gì Việt Nam thì làm, đè xấp đè ngửa nó ra hay sao thì... đời nhà Tùy.
Lấy lại tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, “lược” quy
định về bản chất, nền tưởng tư tưởng của Đảng, đặt yêu cầu lực lượng vũ
trang tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân lên trước Đảng… Đó là
những phương án mới về dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi.
Với hơn 26 triệu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân về Dự
thảo Hiến pháp sửa đổi được tập hợp, tất cả những nội dung cơ bản cũng
như chi tiết, từ Lời nói đầu tới các chương, từng điều khoản cụ thể đã
được UB Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 nghiên cứu, tiếp thu và giải
trình cặn kẽ. Tinh thần dân chủ thể hiện rõ nét, gần như là nguyên tắc
“tối thượng” khi bản dự thảo Hiến pháp mới được soạn lại với nhiều
phương án khác nhau trên cơ sở tiếp thu những ý kiến góp ý, những vấn đề
được đưa ra tranh luận sôi nổi thời gian qua, bên cạnh phương án cơ bản
giữ nguyên như bản dự thảo đã được công bố để lấy ý kiến hơn 3 tháng
trước.
Lấy lại tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Đối với chương I – quy định về chế độ chính trị, nội dung quy định về
tên nước tại Điều 1 được người dân quan tâm góp nhiều ý kiến. Loại ý
kiến thứ nhất tán thành tiếp tục quy định tên nước là Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
Đây là tên gọi đã được sử dụng ổn định từ tháng 7/1976 đến nay. UB Dự
thảo lập luận, tên gọi này đã trở nên quen thuộc với người dân và bạn
bè quốc tế, thể hiện rõ mục tiêu phấn đấu về con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội. Việc giữ tên nước, theo đó, có mặt lợi là tiếp tục khẳng định
mục tiêu, định hướng… đồng thời giữ được tính ổn định, tránh việc phải
thay đổi về quốc huy, con dấu, quốc hiệu...
Loại ý kiến thứ 2 đề nghị lấy lại tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
vì tên này gắn liền với sự ra đời của chính thể cộng hòa đầu tiên, được
long trọng công bố qua Bản tuyên ngôn độc lập của Bác, được thể hiện qua
2 bản Hiến pháp (1946 và 1980).
Tên gọi này cũng được cho là phản ánh đúng trình độ phát triển của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với tính chất của nền kinh tế
định hướng XHCN. Tên gọi này có khả năng lôi cuốn, tập hợp đoàn kết
toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận chung trong xã hội, đồng thời thuận lợi
hơn trong quan hệ hợp tác với các nước khác trên thế giới…
Việc lựa chọn tên nước theo phương án này, UB dự thảo nhận định,
không làm ảnh hưởng đến việc tiếp tục phát triển đất nước theo định
hướng XHCN bởi chủ trương, đường lối, pháp luật của nhà nước cũng như
bản thân các quy định của Hiến pháp vẫn đang khẳng định mục tiêu này.
Thực tế, trong giai đoạn từ 1954 đến 1976, với tên gọi Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, nhà nước vẫn khẳng định và thực hiện công cuộc xây dựng CNXH.
Từ những lập luận đó, UB Dự thảo thể hiện lại Điều 1 để làm rõ hơn
hình thức chính thể và chủ quyền của Nhà nước, đồng thời đề xuất phương
án quy định tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Điều 2, nội dung xác định nền tảng quyền lực nhà nước trên cơ sở liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”
cũng có rất nhiều ý kiến góp ý khác nhau. Ngoài đề xuất giữ nguyên có
nhiều ý kiến đề nghị xác định nền tảng này là khối đại đoàn kết toàn dân
tộc để đảm bảo bản chất của nhà nước pháp quyền và đề xuất chỉ quy định
một cách tổng quát “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, không
thể hiện về “nền tảng”.
Tiếp thu nội dung này, UB Dự thảo đưa ra dự kiến 2 phương án giữ
nguyên như dự thảo cũ và đổi quy định “nền tảng là khối đại đoàn kết
toàn dân tộc”.
Cô đọng quy định về Đảng
Về Điều 4, báo cáo tiếp thu giải trình nêu rõ, tuyệt đại đa số ý kiến
người dân tán thành việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
nhà nước và xã hội, tán thành bổ sung quy định Đảng gắn bó mật thiết với
nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu sự lãnh đạo của nhân dân
về sự lãnh đạo của mình.
Các ý kiến góp ý tập trung nhiều về cách thể hiện khoản 1 của Điều
này. Loại ý kiến thứ nhất tán thành quy định “Đảng Cộng sản Việt Nam,
đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của
nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi
ích của giải cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng”.
Loại ý kiến thứ 2 đề nghị viết lại một cách khái quát, cô đọng, chỉ
cần khẳng định Đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội.
Phương án mới được UB Dự thảo đưa ra là viết khái quát theo hướng này.
Ngoài ra, có ý kiến đề nghị làm rõ hơn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối
với nhà nước và xã hội, cơ chế chịu trách nhiệm của Đảng và cơ chế để
nhân dân giám sát Đảng. Ý kiến này đề nghị cần có luật về Đảng nhằm tạo
cơ sở pháp lý cho Đảng thực thi vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình đối
với nhà nước và xã hội, tạo sự minh bạch trong hoạt động của Đảng, tạo
cơ sở cho nhân dân giám sát hoạt động của tổ chức Đảng và Đảng viên.
Vấn đề này, UB Dự thảo nhận định, Đảng là lãnh đạo về mặt chính trị
thông qua cương lĩnh, chiến lược, các định hướng và chính sách, chủ
trương lớn của mình. Cách thức, nội dung lãnh đạo cần có sự uyển chuyển
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn, từng thời kỳ. Hiện tại,
việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cũng là vấn đề đang được tổng
kết, nghiên cứu. Bên cạnh đó, quy định mọi tổ chức Đảng, Đảng viên hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là một bảo đảm quan trọng
để nhân dân có điều kiện giám sát Đảng. Vì vậy, cơ quan biên tập không
đưa vấn đề ban hành luật về Đảng vào Hiến pháp.
Trong chương này, Điều 9 quy định về MTTQ Việt Nam, cũng có 2 phương
án được đưa ra. Phương án thứ nhất, bổ sung Điều 9 quy định “Đại đoàn
kết dân tộc là động lực phát triển của Nhà nước và xã hội”; sửa khoản 2
quy định về MTTQ theo đề xuất của UB TƯ MTTQ và bổ sung khoản 3 quy định
về vai trò của các tổ chức chính trị xã hội và các thành viên khác của
mặt trận. Nếu chấp nhận phương án này, Điều 10 về vai trò của tổ chức
Công đoàn được bãi bỏ.
Phương án thứ 2, các nội dung sửa đổi, bổ sung cũng tương tự nhưng
không bổ sung khoản 3. Theo phương án này, dự thảo luật vấn duy trì Điều
10.
Chương IV về bảo vệ tổ quốc, vấn đề quy định “lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Đảng” có 2 loại ý kiến. Có ý kiến thành thành hướng sửa đổi của dự thảo được xây dựng 3 tháng trước nhưng đề nghị đảo cụm từ “lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân” lên trước. Ý kiến này cho rằng, lực lượng vũ trang của Việt Nam do Đảng thành lập và rèn luyện. Do đó, để khẳng định bản chất của lực lượng vũ trang, cần quy định rõ trong Hiến pháp nghĩa vụ trung thành với Đảng của lực lượng vũ trang.
Nhiều ý kiến khác lại đề nghị thể hiện nội dung điều khoản này như Hiến pháp hiện hành, không quy định “lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”. Ý kiến này cho rằng, qua trải nghiệm thực tế cho thấy vẫn đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện với lực lượng vũ trang.
UB Dự thảo sửa đổi Hiến pháp xây dựng 2 phương án theo các hướng kiến nghị trên để trình UB Thường vụ QH.
P.Thảo