Nguyễn Vạn Phú
Hỏi chuyện một số chuyên gia kinh tế vì sao dạo này không viết
báo nữa, nhiều người trả lời, hầu như các quy luật kinh tế không có tác
dụng ở Việt Nam cho nên họ không muốn bị hớ, càng viết e càng sai thực
tế.
Mà đúng như thế thật. Lấy chuyện lãi suất làm ví dụ. Ở các nước khác
một khi người có thẩm quyền nói lãi suất sẽ phải giảm ngay, hàng loạt
tác động lên thị trường sẽ xuất hiện. Chẳng hạn giá trái phiếu chính phủ
sẽ tăng vì người ta sẽ đổ tiền ra mua trái phiếu; giá cổ phiếu cũng
tăng; tiền đồng sẽ sụt giá so với các đồng tiền khác… Đặc biệt các hiện
tượng này càng bị khuếch đại lên nhiều lần nếu người ta có một thời gian
xoay xở từ khi biết lãi suất chắc chắn sẽ giảm và đến lúc nó giảm thật
sự. Chuyện tăng hay giảm ở các nước khác có khi chỉ là 0,25 điểm phần
trăm là đã gây hiệu ứng lớn chứ ít khi lên đến 1 điểm phần trăm như
trong trường hợp của Việt Nam.
Trong thực tế, trong khoản thời gian từ lúc có tuyên bố lãi suất phải
giảm đến khi nó giảm thật sự, thị trường hoàn toàn yên ắng. Chỉ trừ một
hiệu ứng tận dụng thời gian lãi suất chưa giảm, một số người chuyển các
khoản tiền tiết kiệm kỳ hạn ngắn từng tháng sang kỳ hạn dài hơn như
nguyên năm để sau này lãi suất có giảm, họ cũng không bị ảnh hưởng. Ở
đây cũng lạ, chưa thấy ở nước nào người ta có thể biết trước một cách
chắn chắn lãi suất sẽ giảm như thế cả. Và các ngân hàng, không phải tất
cả đều giảm lãi suất huy động để đối phó với khả năng lãi suất chắc chắn
sẽ giảm – thậm chí nhiều nơi còn tận dụng thời gian này để thu hút tiền
gởi dài hạn mặc dù phải trả lãi cao.
Không một chuyên gia kinh tế tài giỏi nào có thể lý giải tình hình
thị trường như thế ngoại trừ một loại “lý thuyết âm mưu”: biết đâu càng
nhiều người chuyển các khoản tiền gởi kỳ hạn ngắn sang kỳ hạn dài là
càng đúng với ý muốn của những người làm chính sách.
Một chuyện khác cũng làm các chuyên gia kinh tế bó tay. Đó là việc
nhiều công ty nhấn mạnh vào số lượng tiền mặt lớn công ty đang nắm giữ,
coi đó như một thế mạnh của công ty! Báo chí cũng dựa vào các con số này
để “phong” “các đại gia tiền mặt” của Việt Nam. Trong điều kiện bình
thường, một công ty ôm một mớ tiền mặt là đã thấy sự bất lực không biết
sử dụng đồng tiền vào những dự án mới sao cho có hiệu quả. Trong bối
cảnh lạm phát, lượng tiền mặt càng lớn, công ty càng thiệt hại, sao lại
cho đó là các “đại gia”.
Nếu tiền mặt chuyển thành nguyên liệu sản xuất, đến chu kỳ bán hàng
mới, doanh nghiệp mới hy vọng mặt bằng giá cả mới sẽ giúp họ thu hồi vốn
và có lãi. Còn tiền mặt nằm yên một chỗ, sẽ bị hao hụt theo lạm phát,
trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp.
Ở đây, các chuyên gia tài chính cũng lưu ý một hiện tượng: phải phân
biệt sự khác nhau giữa đầu tư tài chính lành mạnh và đầu tư tài chính
liều lĩnh của các tập đoàn nhà nước đã bị phê phán. Một doanh nghiệp lấy
dòng tiền của mình đầu tư vào chứng khoán theo phong trào hay mua cổ
phần trực tiếp của các công ty khác trong lĩnh vực địa ốc, chứng khoán…
là một quyết định có nhiều rủi ro, cần cân nhắc rất kỹ. Ngược lại, một
doanh nghiệp khác có khoản tiền mặt chưa sử dụng đến, đem đi mua trái
phiếu chính phủ, là một hoạt động bình thường trong quản trị tài chính.
Không khéo, mọi người sẽ dị ứng với cụm từ “đầu tư tài chính” và bỏ quên
luôn các quy luật quản trị thông thường.
Sự bó tay của các chuyên gia kinh tế cũng xuất phát từ cách hiểu sai
lệch sự vận hành của nền kinh tế thị trường của các quan chức nhà nước.
Ví dụ khi một bộ trưởng đề nghị Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng
thương mại khoanh nợ, dãn nợ cho một số doanh nghiệp nào đó, có lẽ ông
hiểu nhầm vai trò của NHNN hay không hiểu cơ chế vận hành của hệ thống
ngân hàng. Ngay cả với các ngân hàng thương mại nhà nước, NHNN đã từ lâu
cũng không thể yêu cầu, chỉ định họ cho vay chỗ này, khoanh nợ chỗ kia
được. Điều đáng tiếc, nguyên tắc để các ngân hàng chịu trách nhiệm về
các khoản vay của mình đang dần dà bị bỏ quên, việc chỉ định cho vay đối
với doanh nghiệp nhà nước lại tái diễn, việc khoanh nợ cho ngân hàng
lại xảy ra. Cho nên biết đâu ông bộ trưởng nói đúng và các chuyên gia
phê phán sai!
Sự hiểu sai cơ bản về những khái niệm như vốn, tài sản, nợ còn phổ
biến nhiều hơn nữa ở các doanh nhân một khi họ lên mặt báo để phân bua
điều gì đó. Chẳng hạn tổng giám đốc một công ty gần phá sản vì nợ cùng
khắp nói không có gì đáng lo vì đã có đối tác sẵn sàng bỏ ra 80 triệu
đô-la mua lại nhà máy, dư sức để trả nợ. Tám mươi triệu đô-la tương
đương với chừng 1.700 tỷ đồng trong khi vốn điều lệ của công ty này chỉ
có 500 tỷ đồng. Không ai dại gì bỏ ra 1.700 tỷ đồng mua cổ phần của một
công ty vốn điều lệ chỉ có 500 tỷ đồng lại gần phá sản, cả trừ phi công
ty đang ăn nên làm ra, triển vọng hấp dẫn cỡ Facebook hay Apple!