Nguyễn Thiện Nhân
Một con đường mà cái đích không lượng định được khi nào sẽ tới thì
giống như ta đi về phía cuối chân trời để tìm nơi tiếp giáp giữa bầu
trời và trái đất! Cả dân tộc VN đang được dẫn dắt đi trên con đường như
thế, lúc đầu họ đi trong sự hồ hởi, về sau họ hoang mang mang lo lắng
không biết đi về đâu nhưng vẫn lầm lũi bước theo sự khẳng định “sẽ tới”
của những nhà lãnh đạo.
Chủ nghĩa xã hội (CNXH) được cho là giai đoạn đầu của Chủ nghĩa cộng
sản (CNCS). Cả CNXH và CNCS cho đến nay chưa hề trở thành thực tiễn, nó
chỉ là một chủ nghĩa mà một số quốc gia muốn xây dựng! Đa số các quốc
gia cộng sản đã thất bại trong công cuộc xây dựng to tác này, đó là Liên
Xô và các nước Đông Âu.
Đảng CSVN cho rằng “Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ CNTB
lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới”. Năm 2013, ông TBT đảng
CSVN-Nguyễn Phú Trọng phát biểu mơ hồ rằng “Đến hết thế kỷ này không
biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”!
Nếu là một đảng có trách nhiệm thì phải định lượng thời gian và đưa
ra lộ trình rõ ràng cho đường lối của mình trong công cuộc xây dựng CNXH
chứ không thể chỉ định tính chung chung như thế được.
Trong phát triển kinh tế, đảng CSVN đưa ra chủ trương rất mù mờ. Bộ
trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh trong một buổi nói chuyện về
các vấn đề kinh tế ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vào cuối
năm 2013, về câu hỏi “thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa?”, ông nói: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi
có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”!
Đến nay, đảng CSVN vẫn xem chủ nghĩa Mac-Lenin là đúng đắn và lãnh
đạo đất nước đi theo chủ nghĩa này. Đồng thời bắt buộc các trường đại
học và cao đẳng phải dạy cho sinh viên bộ môn Chủ nghĩa Mac-Lenin; tệ
hại hơn, ngoài những nội dung nguyên bản và diễn giải, ban biên soạn còn
‘viết thêm’ xen vào rải rác trong bộ sách khiến cho những cuốn sách dài
lê thê, đầy những câu từ tự khẳng định và ca ngợi không đáng có.
Mac (Karl Marx) sinh ra và lớn lên trong thế kỷ XIX, thời kỳ này chế
độ phong kiến vẫn còn hiện hữu ở nhiều nước. Cả Mac(1818-1883) và Lenin
(1870-1924) đều sinh ra và lớn lên trong thời kỳ chưa nổ ra cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật hiện đại như chất bán dẫn, tia laser, năng lượng
hạt nhân, chất phóng xạ, máy tính điện tử…và tất nhiên thời ấy chưa có
điện thoại di động, internet! Nói như thế để thấy rằng không có gì ngạc
nhiên khi học thuyết Mac-Lenin có những khiếm khuyết rất lớn mà đến cuối
thế kỷ XX nhân loại mới có thể nhìn thấy rõ ràng.
Không thể nói tư bản “bóc lột” công nhân bằng giá trị thặng dư
Chủ nghĩa Mac-Lenin tuyên bố đấu tranh vì lợi ích giai cấp công
nhân. Chủ nghĩa Mac-lenin cho rằng bản chất của kinh tế tư bản là bóc
lột và cho rằng nhà tư bản bóc lột sức lao động của công nhân thông qua
giá trị thặng dư.
Chủ nghĩa Mac-Lenin cho rằng T’ = T + m (trong đó m là giá trị thặng dư) và mức độ bóc lột được đo bằng công thức: m’ = m/v
Ngày nay, nếu đem cho những nhà chuyên môn độc lập phân tích đánh
giá thì sẽ thấy phần (tiền) bóc lột không thể đo bằng giá trị thặng dư,
nói cách khác phần bóc lột của nhà tư bản (nếu có) chỉ là một phần của
giá trị thặng dư.
Theo tôi, nếu đặt phần bóc lột là e thì e = m – u (e ≤ m), trong đó u
là giá trị tổng hợp những yếu tố mà nhà tư bản được hưởng một cách
chính đáng như tổ chức sản xuất-quản lý điều hành, phát minh sáng chế
khoa học, khả năng ứng dụng phát minh sáng chế khoa học, bí quyết công
nghệ, tổ chức hệ thống phân phối, rủi ro…Nếu xét ở một doanh nghiệp cụ
thể thì ngoài những yếu tố này, u còn gồm cả thiết kế mẫu mã hàng hóa,
thương hiệu doanh nghiệp, khả năng dự đoán thị trường, thông tin riêng
có…
Những người cộng sản vẫn ấu trĩ phủ nhận những giá trị chính đáng
của nhà tư bản và xem phần bóc lột sức lao động là toàn bộ giá trị thặng
dư, gồm cả giá trị cấu thành trong u. Xét từng yếu tố cụ thể:
+ Công nhân không thể tự tổ chức (và quản lý điều hành) sản xuất,
bởi chỉ rất ít người có khả năng tổ chức sản xuất. Nếu nhà tư bản thuê
người tổ chức giúp mình thì họ đã phải trả lương, lương này đã rất cao
so với công nhân trực tiếp sản xuất, nếu nói nhà tư bản bóc lột thì họ
chỉ bóc lột người tổ chức sản xuất cho mình chứ không phải bóc lột công
nhân. Những người tổ chức sản xuất thuê đã được trả lương hậu hĩnh còn
gì!
+ Nhà tư bản mua phát minh sáng chế (hoặc họ thuê người nghiên cứu
ra), họ đã phải trả tiền. Nhà tư bản bóc lột (nếu có) thì bóc lột người
phát minh sáng chế chứ đâu có bóc lột công nhân! Ngày nay, chính phủ các
nước tư bản phát triển đều cố gắng bảo vệ quyền lợi của người phát minh
sáng chế khoa học (tác quyền) bằng hệ thống luật pháp và khả năng thực
thi pháp luật nghiêm khắc của họ. Việc này chính quyền các nước tư bản
phát triển làm tốt gấp trăm lần các chính quyền cộng sản.
+ Bí quyết công nghệ của một doanh nghiệp làm sao có thể nói là do
bóc lột? Bí quyết của công ty bia heineken, nước giải khát coca cola…
trị giá hàng tỷ USD, không thể nói đó là của công nhân được. Nếu có bóc
lột thì chắc chắn không phải là bóc lột công nhân.
+ Cũng như tổ chức sản xuất, việc tổ chức hệ thống phân phối tốt
cũng làm nên giá trị thặng dư của doanh nghiệp, và chắc chắn không phải
là bóc lột công nhân.
+ Mỗi doanh nghiệp phải tự chịu rủi ro khi bỏ vốn ra kinh doanh, rất
nhiều rủi ro chực chờ và khó đoán trước được như thiên tai, chiến
tranh, cháy nổ, bất ổn, bị cướp, bị trộm, bị hư hỏng, tai nạn, khủng
hoảng kinh tế, dự toán sai… Hiện nay, ngay cả trong điều kiện bình
thường, số doanh nghiệp lỗ lã cũng đã chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Khi
khủng hoảng xảy ra, có khi đến quá nửa doanh nghiệp phải chịu lỗ lã và
một loạt phải phá sản vì không còn sức chịu đựng, chủ doanh nghiệp phải
chịu mất vốn. Chỉ trong 8 tháng của năm 2014, VN có 44.500 doanh nhiệp
phá sản/giải thể chiếm 10% tổng số doanh nghiệp trong cả nước.
…
Trên đây là nhìn từ góc độ giá trị thặng dư. Còn nhìn từ góc độ lợi
nhuận thì sao? Cũng tương tự như giá trị thặng dư, xét trên phạm vi toàn
xã hội, tổng số lợi nhuận luôn ngang bằng tổng số giá trị thặng dư. Nếu
xét chi tiết thì:
+ Nếu cung = cầu thì: giá cả = giá trị, lợi nhuận = giá trị thặng dư
+ Nếu cung < cầu thì: giá cả > giá trị, lợi nhuận > giá trị thặng dư
+ Nếu cung > cầu thì: giá cả < giá trị, lợi nhuận < giá trị thặng dư
Mac-Lenin đo mức độ bóc lột bằng công thức m’ = m/v (với v là tư bản
khả biến). Hiện nay, tỷ suất lợi nhuận bình quân giảm nhiều so với
những thế kỷ trước. Nếu áp dụng công thức tính mức độ bóc lột thì rất
ngộ nghĩnh, một doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận 7%/năm có thể bị ‘mang
tiếng’ là bóc lột đến 200%! hoặc cao hơn nữa!! Vắt óc suy nghĩ, bỏ vốn
chịu rủi ro, bỏ công tổ chức sản xuất và điều hành doanh nghiệp một năm
lời được 7% mà không đáng hay sao? Ngoài ra nhà tư bản còn đóng góp vào
ngân sách và tạo việc làm cho công nhân giúp nền kinh tế phát triển,
quốc gia hùng mạnh.
Sự bóc lột của nhà tư bản không đáng trách bằng nạn tham nhũng của
quan chức VN. Quan chức VN không bỏ vốn, không tốn công, chỉ ký là có %
tiền lót tay, có bao thư bỏ túi. GS.TS Nguyễn Hữu Tri, Viện phó phụ
trách Viện Xã hội học và Khoa học quản lý, nguyên là Viện trưởng Viện
Khoa học hành chính của Học viện hành chính Quốc gia nói về thực trạng
tham nhũng thực tế trong các dự án ở VN: “Qua nhiệm kỳ, vị nào cũng cố
chạy cho mình vài dự án. Có dự án kiểu gì cũng được cắt 10-20%. Cho nên
trước đã phá nhiều công trình như trạm máy kéo, nhà văn hóa… thấy rằng
phá không biết bao nhiêu tiền của nhân dân”. Tổn thất từ tham nhũng
không phải bằng số tiền tham nhũng mà nó cao gấp mấy lần do những hệ lụy
của tham nhũng để lại.
Trước đây, hầu hết các nước cộng sản đều sai lầm khi phủ nhận kinh
tế tư nhân, diệt tư sản. Sai lầm ấy vừa kéo lùi sự phát triển kinh tế
vừa gây thảm họa về nhân quyền, những người bất đồng chính kiến đã bị
giết, tù tội, trù dập, khinh khi trong các xã hội ‘chuyên chính’ của
cộng sản.
Ngày nay, các nước cộng sản đang vẫn tiếp tục sai lầm khi cố níu giữ hệ thống DNNN thông qua chủ trương “kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo”. Hậu quả là các DNNN làm ăn kém hiệu quả, lãng phí vốn, xảy ra tham nhũng, bị rơi vào nhóm các quốc gia tham nhũng cao nhất thế giới…
Ngày nay, các nước cộng sản đang vẫn tiếp tục sai lầm khi cố níu giữ hệ thống DNNN thông qua chủ trương “kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo”. Hậu quả là các DNNN làm ăn kém hiệu quả, lãng phí vốn, xảy ra tham nhũng, bị rơi vào nhóm các quốc gia tham nhũng cao nhất thế giới…
Đảng CSVN một mặt vinh danh doanh nhân làm ăn giỏi, mặt khác lại
than phiền họ bóc lột. Chiếu theo chủ nghĩa Mac-Lenin thì doanh nhân
càng làm ăn giỏi thì càng bóc lột nhiều. Thế đấy, bóc lột nhiều lại được
vinh danh, kể cũng lạ!
Xóa bỏ bóc lột sức lao động công nhân bằng cách nào?
Mac-Lenin đã thừa nhận hình thái kinh tế TBCN là hình thái KT-XH kế
tiếp, liền sau hình thái KT-XH phong kiến. Thay vì đấu tranh để hạn chế
mặt trái của CNTB thì Mac-Lenin lại chủ trương thành lập cái gọi là
“đảng cộng sản” để “lãnh đạo” công nhân xóa bỏ CNTB, xây dựng CNXH! Tệ
hơn, Lenin còn cho rằng một số quốc gia có thể “rút ngắn”, bỏ qua giai
đoạn CNTB để tiến lên CNXH!
Nếu thành lập “đảng cộng sản” để cạnh tranh bình đẳng với các đảng
phái khác thì không có gì đáng trách. Nhưng thực tế, cộng sản luôn có xu
hướng tập quyền, chủ trương “chuyên chính”, từ đó dẫn đến vấn nạn độc
tài cộng sản với một đảng duy nhất độc quyền lãnh đạo.
Tờ Tạp chí cộng sản của đảng CSVN viết rằng “chừng nào xã hội
hiện đại vẫn là chế độ tư bản thì mọi quyền lực chi phối vẫn
thuộc về giai cấp nào nắm giữ tư bản, đó là giai cấp tư sản
chứ không có gì thay đổi. Giai cấp tư sản vẫn là giai cấp
thống trị”. Nhận định này hết sức ấu trĩ với cái nhìn hẹp hòi, phiến
diện. Thực tế phát triển của các nước tư bản trái ngược với nhận định
này. Hiện nay, tại các nước tư bản phát triển, quyền lực đã hình thành
thế kiềng ba chân “nhà tư bản-chính quyền-nhân dân”. Ở các nước tư bản
phát triển, qua quá trình đấu tranh, nhân dân đã có trong tay công cụ
làm chủ đất nước: thứ nhất, nhân dân được bầu cử trực tiếp nguyên thủ
quốc gia gắn với sự cạnh tranh chính trị đa nguyên đa đảng, từ đó người
dân được chọn lựa người lãnh đạo đất nước mình, thứ hai người dân được
phép biểu tình bất bạo động kèm theo những quyền khác như quyền tự do
báo chí, tự do ngôn luận… tạo nên một sức mạnh lớn lao trong dân chúng
mà bất cứ chính phủ nào cũng phải khuất phục. Các nhà tư bản chỉ là một
lực lượng có tiền, họ chỉ có một phần quyền lực chứ không phải là “mọi
quyền lực chi phối”. Nhìn vào chính quyền của tổng thống Obama hiện nay
mà xem, không phải mọi quyền lực đều bị giai cấp nắm giữ tư bản chi phối
đâu nhé!
Hoàn toàn có thể xây dựng một quốc gia tư bản phát triển giàu mạnh,
an sinh tốt, đời sống người lao động nâng cao và mức độ bóc lột không
đáng kể. Để đạt được điều đó, phải hội đủ 3 điều kiện:
- Thể chế chính trị đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập, bầu cử tự do, nhân quyền được tôn trọng
- Thị trường cạnh tranh tự do (thị trường hàng hóa, thị trường lao động…)
- Công đoàn hoạt động độc lập
- Thị trường cạnh tranh tự do (thị trường hàng hóa, thị trường lao động…)
- Công đoàn hoạt động độc lập
Sự cạnh tranh tự do trên thị trường lao động của hàng triệu doanh
nghiệp trong một quốc gia đã giúp nâng cao tiền lương tối đa, giảm thiểu
sự bóc lột sức lao động, tiến đến đưa bóc lột tiệm cận con số 0.
Ở Việt Nam, công ty phải chịu nhiều tiêu cực phí, bị quan chức chính
quyền nhũng nhiễu, thủ tục hành chính phiền hà, cạnh tranh không lành
mạnh, thực thi pháp luật yếu kém, phe nhóm lợi ích tung hoành… khiến
doanh nghiệp tốn thêm chi phí và phải trả lương thấp hơn để bù lại những
tổn thất đó. Hiện nay, lương công nhân ở VN rất thấp, nó thấp hơn mức
mà công nhân đáng lẽ được hưởng, không phải do “bóc lột” mà do những tổn
thất từ thể chế mang lại.
Công đoàn hoạt động độc lập là công đoàn đảm đương nhiệm vụ bảo vệ
lợi ích của công nhân, không chịu chi phối bất cứ đảng phái chính trị
nào. Lãnh đạo công đoàn phải do chính công nhân bầu ra, công đoàn hoàn
toàn có thể tổ chức đình công để đòi quyền lợi cho công nhân khi chủ
không đáp ứng yêu cầu chính đáng của họ.
Các nước tư bản lấy kinh tế tư hữu làm nền tảng và lợi nhuận là động
lực để phát triển kinh tế. Việt Nam xây dựng CNXH lấy kinh tế nhà nước
làm chủ đạo, lãnh đạo DNNN lo tìm cách tư lợi bất chính, bỏ túi riêng
hơn là chăm lo cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Hiện nay, ở VN kinh
tế khó khăn, khủng hoảng ngân sách, lương công nhân không đủ nuôi sống
gia đình… Cải cách thể chế đang là vấn đề bức thiết.
Kết luận
Các nước ở Châu Á như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore là
những nước tư bản thành công điển hình với mô hình phát triển TBCN mà VN
cần phải nghiêm túc nhìn nhận và học tập… CNTB phát triển đúng theo quy
luật vận động của xã hội loài người. Hầu hết các quốc gia trên thế giới
đang đi theo con đường CNTB và là xu thế toàn cầu không thể đảo ngược.
Những mặt trái của nền kinh tế tư bản cạnh tranh tự do cùng với những
hạn chế của thể chế đa nguyên đa đảng, chúng ta hoàn toàn có thể có biện
pháp điều tiết hoặc khắc chế mà không cần đến CNXH hay CNCS.
Chủ nghĩa cộng sản bất khả thi, chỉ mới ở giai đoạn quá độ lên CNXH
đã gây rất nhiều tổn thất và đẩy VN vào con đường bế tắc. Chấp nhận đau
đớn để từ bỏ CNXH, xây dựng thể chế đa nguyên đa đảng cạnh tranh cả về
chính trị lẫn kinh tế, chúng ta sẽ xây dựng được đất nước giàu mạnh, văn
minh và dân chủ. Trong lâu dài, nền kinh tế giàu mạnh là một trong
những điều kiện không thể thiếu để giữ vững chủ quyền biên giới cũng như
biển đảo của Việt Nam.