Trịnh Hữu Long
UPR được đánh giá là một cơ chế bảo vệ nhân quyền hiệu quả của Liên
Hợp Quốc, bởi các phiên UPR là diễn đàn duy nhất mà các tổ chức dân sự
của một quốc gia có thể đến tham dự và phản ánh, báo cáo về tình hình
nhân quyền nước mình. Tuy thế, qua 18 kỳ UPR từ trước tới nay, người ta
cũng đã nhận thấy nhiều cái dở của cơ chế này, mà nổi bật lên là khả
năng các nước độc tài hợp tác thành phe cánh để biểu dương lẫn nhau về
“thành tựu nhân quyền đạt được”, bất chấp thực tế.
Các nhà hoạt động nhân quyền của Việt Nam, thành viên của phái đoàn
dân sự độc lập tham dự kỳ UPR lần thứ 18 vừa rồi (27/1-7/2/2014), hẳn đã
chứng kiến tận mắt cách thể hiện của mỗi quốc gia có mặt điều trần, và
sự cấu kết, bênh vực nhau đến thô thiển giữa nhóm nước “bét bảng” của
thế giới về nhân quyền: Việt Nam, Trung Quốc, Cuba, Venezuela, Bắc Triều
Tiên… Nhưng dù sao, cũng phải nói rằng nếu không có UPR, khối dân sự
độc lập của chúng ta đã không bao giờ có cơ hội được đến một diễn đàn
quốc tế như vậy.
Những kỳ vọng về UPR
UPR, tức Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát, là một cơ chế được thiết lập
theo Nghị quyết 60/251 của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc. UPR bảo vệ nhân
quyền bằng cách thực hiện chức năng đánh giá (kiểm điểm) các nước “dựa
trên những thông tin khách quan và đáng tin cậy về việc mỗi nước thực
hiện các nghĩa vụ và cam kết nhân quyền của họ như thế nào” (Nghị quyết
60/251).
UPR được kỳ vọng là sẽ “đảm bảo tính phổ quát của nhân quyền và đối
xử bình đẳng giữa tất cả các quốc gia”. Nghị quyết 60/251 còn tuyên bố
rằng UPR sẽ là “một cơ chế hợp tác, dựa trên đối thoại tương tác, với sự
tham gia đầy đủ của nước liên quan và có xét đến các nhu cầu nâng cao
năng lực của nước đó”.
Nói vậy là bởi vì, UPR là cơ chế áp dụng đối với tất cả các nước
thành viên của Liên Hợp Quốc, nghĩa là gần như với cả thế giới. Từ các
quốc gia phát triển như Mỹ, Tây Âu, đến các nước nghèo như Zimbabwe,
Mozambique ở châu Phi, đến nước có thu nhập trung bình như Việt Nam, ai
cũng đều phải lần lượt ra báo cáo, điều trần về tình hình nhân quyền
nước mình. Liên Hợp Quốc kỳ vọng, ngay cả những quốc gia chưa bao giờ
thấy hồ sơ nhân quyền của họ bị đem ra thảo luận, thì trong quá trình
kiểm điểm cũng sẽ phải đối diện với những câu hỏi hóc búa từ các quốc
gia ngang hàng (bình đẳng) với mình.
Phiên UPR đầu tiên của chu kỳ UPR đầu tiên diễn ra từ ngày 7 đến
ngày 18/4/2008, với việc kiểm điểm tình hình nhân quyền của 16 nước:
Bahrain (Ba-ranh), Ecuador, Tunisia, Morocco (Ma-rốc), Indonesia, Phần
Lan, Vương quốc Anh, Ấn Độ, Brazil, Philippines, Algeria, Ba Lan, Hà
Lan, Nam Phi, CH Séc, và Argentina.
Từ năm 2008 đến nay, quá trình “luân phiên làm kiểm điểm” hiện đã bước sang vòng thứ hai.
Bên cạnh đó, một ưu điểm nữa của UPR là nó cho phép khối xã hội dân
sự (tức là các tổ chức phi chính phủ) cũng có thể tham dự và gửi báo cáo
về tình hình nhân quyền nước mình cho Liên Hợp Quốc, gọi là “báo cáo
của các bên liên quan”. Thông tin từ khối xã hội dân sự được coi như một
nguồn đầu vào có giá trị để Liên Hợp Quốc tham khảo.
Thực tế không như kỳ vọng
Tuy nhiên, sau khi chứng kiến những phiên UPR vừa qua, giới bảo vệ
nhân quyền đã bắt đầu phải đặt câu hỏi về khả năng UPR bị nhiều chính
phủ thao túng, và liệu UPR có phải là một cơ chế hiệu quả để đánh giá
thực trạng nhân quyền của mỗi nước hay không.
Trên thực tế, thay vì đặt ra các câu hỏi hóc búa để chất vấn nhau,
các nước cùng “băng đảng độc tài” lại tỏ ra đoàn kết. Ngay tại phiên UPR
thứ 18, các nhà hoạt động Việt Nam cũng đã chứng kiến: Những câu hỏi
thành thực, thể hiện sự quan tâm và hiểu biết về tình hình nhân quyền ở
Việt Nam, lại chỉ đến từ các nước phương Tây, như Mỹ, Anh, Thụy Điển,
Phần Lan… Trong khi đó, Lào, Cuba, Trung Quốc lại tỏ ra rất hào phóng
trong việc khen ngợi Việt Nam.
Từ phiên UPR đầu tiên năm 2008, các nước tham gia đối thoại tương
tác đã xây dựng một thông lệ, theo đó, bố cục chung của mỗi phát biểu
là: Đầu tiên, ghi nhận những thay đổi tích cực ở quốc gia bị kiểm điểm;
sau đó, nêu các vấn đề gây quan ngại; tiếp theo là phần câu hỏi chất
vấn; và cuối cùng là các kiến nghị nếu có.
Kết quả, trên thực tế sau 18 kỳ UPR: “Nhìn chung, những lời khen
ngợi vượt xa các ý kiến phê bình, còn các kiến nghị đưa ra thì nhiều
khi quá chung chung và mơ hồ đến nỗi khó mà định lượng được mức độ thực
hiện chúng trong tương lai. Trong quá trình đối thoại tương tác, một số
nước còn duy trì cái lệ hỏi cùng một câu hỏi, nêu cùng một vấn đề cho
tất cả các nước khác” (đánh giá của tổ chức Sáng kiến Nhân quyền Khối Thịnh vượng chung, CHRI).
Ngoài ra, khi tham dự phiên điều trần của chính phủ Việt Nam hồi
tháng 2/2014, các nhà hoạt động Việt Nam nhận thấy: Không chỉ các nước
cùng “băng đảng độc tài” mới bênh Việt Nam, mà những quốc gia cùng khu
vực hoặc cùng tổ chức cũng có xu hướng thiên vị nhau. Thái Lan và
Philippines đều bỏ qua nhiều vấn đề nhức nhối về nhân quyền ở Việt Nam,
mặc dù hai nước láng giềng này có lẽ hiểu hơn ai hết về tình hình nhân
quyền nơi đây.

Luật sư Trịnh Hữu Long trình bày về tình hình nhân quyền trong Ngày Việt Nam (30/1/2014) ở Geneva.
Đánh giá lại UPR
Sự cấu kết, bênh vực lẫn nhau trong quá trình kiểm điểm đã khiến
chất lượng của đối thoại suy giảm: kém tính thẳng thắn, chất vấn, và kém
sức ép để nước bị kiểm điểm phải thay đổi.
Tuy nhiên, xét về nhiều mặt, UPR cũng vẫn là một cơ chế có ích:
- Nó thu hút sự chú ý của công luận đến tình hình nhân quyền ở quốc
gia bị kiểm điểm, mặc dù có khi chỉ là trong thời gian trước và trong
phiên điều trần.
- Nó tạo cho khối xã hội dân sự ở quốc gia bị kiểm điểm một cơ hội
để lên tiếng. Tổ chức CHRI đánh giá rằng “mặc dù chỉ thỉnh thoảng thông
tin của các bên liên quan mới được đề cập tới, nhưng trong một vài
trường hợp nhất định, rõ ràng là đại đa số các vấn đề được đề cập trong
báo cáo của khối xã hội dân sự thì cũng đã được các quốc gia nêu ra
trong quá trình đối thoại tương tác”.
- Nó cũng là cơ hội để cộng đồng quốc tế đòi hỏi quốc gia chịu kiểm
điểm phải trả lời những câu hỏi mà có thể chẳng bao giờ được nêu ở các
diễn đàn khác, các cơ chế liên chính phủ khác.
Điều quan trọng nhất là, UPR mở ra nhiều cơ hội chưa từng có trong
quá khứ cho khối xã hội dân sự của một nước đối thoại với cộng đồng quốc
tế. UPR cũng tạo ra một mặt trận, hay nói đúng hơn, một sân chơi, để
các nhà hoạt động, các tổ chức dân sự ở mỗi nước tham gia mạnh mẽ vào
công cuộc bảo vệ nhân quyền và hoạch định chính sách ở nước mình.
Cuối cùng, một điểm tích cực nữa có thể được nhận thấy ở UPR là: Rất
dễ xác định những quốc gia đã từng cam kết, từng hứa hẹn và sau đó nuốt
lời. Ví dụ như Việt Nam đã chấp thuận 96 trên tổng số 123 khuyến nghị
của kỳ UPR thứ 5 (tháng 5/2009), theo đó Việt Nam hứa hẹn “tiến hành những bước cần thiết để (…) đảm bảo quyền được xét xử công bằng”, “sửa đổi Luật Báo chí”, “đảm bảo Luật Xuất bản tuân thủ Điều 19 ICCPR”.
Bước sang kỳ UPR thứ 18 vừa rồi, danh sách các khuyến nghị tăng lên
227, và gần như không có một khuyến nghị nào của kỳ UPR trước được thực
hiện.
Cũng vậy, rất dễ nhận ra những liên minh giữa các nước “cùng hội
cùng thuyền” với nhau, những lời khen tặng lẫn nhau và cả những lời tự
khen.