Phong Uyên
Ở thời điểm Công hàm Phạm Văn Đồng, Trung Hoa lục địa chỉ là một thực thể địa lí - chính Tàu Cộng. Chỉ có một quốc gia duy nhất là Trung Hoa Dân Quốc
Trong những cuộc bàn cãi Việt Nam có nên hay không thưa kiện Tàu
cộng trước một tòa án quốc tế về Hoàng Sa và Trường Sa, có nhiều ý kiến
cho không nên, vì Tàu Cộng có thể trưng ra Công hàm Phạm Văn Đồng và
Việt Nam sẽ há miệng mắc quai. Tôi thì nghĩ ngược lại vì những lí lẽ sau
đây:
Tàu Cộng sẽ không dám đưa Công hàm Phạm Văn Đồng ra trước Tòa vì đã
chót vứt nó vào sọt rác khi đem quân đi đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 và
Trường Sa năm 1988.
Công hàm Phạm Văn Đồng không có tính cách pháp lý đối với quốc tế vì
ở thời điểm 1958 nó chỉ là một văn thư riêng giữa 2 thực thể: một thực
thể quốc gia (Entité étatique) là VNDCCH và một thực thể địa lý-chính là
lục địa Trung Hoa Cộng Sản (le continent Chinois communiste ou la Chine
communiste).
1) Công hàm Phạm Văn Đồng đã bị Tàu Cộng vứt vào sọt rác khi đem
quân đi đánh chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Tàu Cộng không thể bới nó ra
và đem trưng trước Tòa:
Năm 1974, có thể Tàu Cộng lợi dụng đúng lúc VNCH bị Mỹ bỏ rơi, thân
cô, thế cô, tiền bạc, súng đạn không có, đem quân đi đánh lén Hoàng Sa
như bọn cướp biển. Tàu Cộng lúc đó có thể nghĩ đến Công hàm Phạm Văn
Đồng, nhưng suy bụng ta ra bụng người, biết cộng sản nào cũng lươn lẹo
như nhau, nên không đợi người em môi hở răng lạnh của mình toàn thắng
mới đòi hỏi chia phần mà tự chia phần hệt như Nga Sô đã làm khi Nhật gần
thua. Tàu Cộng nghĩ đúng phong phóc là một khi Việt Nam thống nhất,
CSVN sẽ đem cái quốc gia ảo CHMNVN ra làm bình phong để giở trò chơi
chữ, từ chối không dâng Hoàng Sa cho mình nữa.
Nhưng cái tận cùng của sự vô sỉ (cynisme) và sự tàn nhẫn đối với đàn
em của mình là 14 năm sau, bất thần đem quân đánh chiếm Trường Sa, giết
74 người "lính tiền phong của XHCN". Lần này Tàu Cộng vứt hẳn
cái Công hàm Phạm Văn Đồng vào sọt rác vì biết chắc là VNDCCH, sẽ lại
đem cái xác VNCH và cái bình phong CHMNVN ra để chống chế là Công hàm
Phạm Văn Đồng không nói gì đến Trường Sa - Hoàng Sa vì ở thời điểm 1958
chủ quyền về những quần đảo này thuộc về quốc gia "ngụy" VNCH và sau này thuộc về thừa kế của nó là CHMNVN.
Một khi đã tự vứt cái Công hàm Phạm Văn Đồng vào sọt rác rồi thì làm
sao lại có thể bới ra và trưng ra trước quốc tế mà không sợ bị quật lại
là Công hàm Phạm Văn Đồng đã công nhận Hoàng Sa tức là Nam Sa và Trường
Sa, tức là Tây Sa là của mình rồi thì tại sao lại không gửi công hàm
cho bộ Ngoại giao nước bạn đòi lại, hay đưa ra làm bằng chứng trước các
cơ quan hòa giải quốc tế đòi nó mà phải dùng võ lực?
Bởi vậy, như tôi đã nói trong một bài phản biện: "bố bảo"
Tàu Cộng cũng không dám đem cái Công hàm Phạm Văn Đồng ra làm bằng chứng
trước tòa án mà không sợ bị vả vào miệng và tự tố cáo mình chỉ là những
bọn cướp biển.
2) Công hàm Phạm Văn Đồng không có tính cách pháp lý của một công
hàm giữa 2 quốc gia mà chỉ là một văn thư riêng giữa hai thực thể: Một
thực thể quốc gia là VNDCCH và một thực thể địa lí-chính là Lục địa Tàu
Cộng
Hiệp định Geneve 1954 chia đôi tạm thời Quốc gia Việt Nam (l'État du
Việt Nam) làm 2 miền cách nhau bởi Vĩ tuyến thứ 17. Hai miền này trở
thành 2 quốc gia de facto sau 1956 vì không có Tổng tuyển cử. Mỗi nước
được một số quốc gia công nhận. Nhưng vì VNCH là thừa kế của Quốc gia
Việt Nam nên được nhiều nước trên thế giới biết tiếng và công nhận nhiều
hơn và nhất là được 4 nước trong Ngũ cường là Anh, Pháp, Mỹ và Trung
Hoa Dân quốc công nhận. Còn VNDCCH chỉ có Nga Sô (không kể những thuộc
quốc Đông Âu), Tàu Cộng và một vài nước trong thế giới thứ Ba công nhận.
Tuy chưa được nhận là thành viên của Liên hiệp quốc nhưng Quốc gia Việt
Nam nằm trong số 51 nước (gần như là tổng số các nước thành viên của
LHQ hồi đó) được mời ký Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản ở Hội nghị San
Francisco. Trong hội nghị Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu lên
tiếng khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam được 45 nước trong
số 51 nước tán thành, không có nước nào phản đối, kể cả Trung Hoa Dân
quốc không được tham dự vì có sự tranh giành với Tàu cộng.
Nói tóm lại về phương diện pháp lí: Trước Hội nghị
Geneve 1954 chỉ có một quốc gia Việt Nam. Sau Hội nghị Geneve 1954 cho
tới 30-4-75, có 2 thực thể quốc gia là VNDCCH và CHVN. Hai thực thể quốc
gia đó hoàn toàn có chủ quyền về phần đất của mình, chẳng hạn như chủ
quyền các đảo ở vịnh Bắc bộ thuộc về VNDCCH, chủ quyền Trường Sa, Hoàng
Sa thuộc về VNCH. Tất nhiên là những tuyên bố về lãnh hải, lãnh thổ
không thuộc chủ quyền của mình đều vô giá trị.
Cái khác với Việt Nam là tổ quốc Trung Hoa chỉ có một quốc gia duy
nhất là Trung Hoa Dân Quốc, kế thừa của Trung Quốc Thanh triều từ 1911
đến 1971. Nhưng cũng vì LHQ chỉ công nhận Trung Hoa Dân Quốc là thành
viên của mình nên Tàu Cộng bị đẩy ra ngoài rìa và chỉ được coi là một
thực thể địa lí-chính từ khi Mao cướp được chính quyền ở Bắc Kinh năm
1949 tới năm 1971 khi được LHQ (Mỹ cho phép) nhận là thành viên thay thế
Trung Hoa Dân Quốc.
Chỉ là một thực thể địa lí-chính nên những tuyên bố đơn phương của
Tàu Cộng năm 1958 về lãnh hải, lãnh thổ thuộc chủ quyền của Trung Hoa
Dân Quốc, quốc gia duy nhất được quốc tế công nhận, đều vô giá trị. Công
hàm Phạm Văn Đồng tán thưởng những lời tuyên bố đó thì cũng chả khác gì
2 mẹ con xẩm mù ngồi với nhau, mẹ hát con khen hay.
Nói tóm lại nếu bản tuyên bố 12 hải lí là của Trung Hoa Dân Quốc
và thủ tướng Phạm Văn Đồng là người gửi công hàm tán thành, thì
CHXHCNVN thừa kế của VNDCCH bắt buộc phải chấp nhận vì từ 1971, CHNDTH
là thừa kế của Trung Hoa Dân quốc.
Kết luận
Theo những lí lẽ trên, Công hàm Phạm Văn Đồng có thể hóa giải được. Nhưng làm sao có thể biến huyền thoại CHMNVN - kế thừa VNCH
thành sự thực? Chỉ có cách là tiếp tục công nghiệp của những người miền
Nam khi trước Nguyễn Xuân Oánh, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Hộ... loại bỏ bọn "Bắc kỳ"
tôi tớ của Tàu, làm một cuộc cách mạng đổi mới chính trị, nghĩa là lấy
lại những cái cũ của VNCH. Những người miền Nam hiện đang cầm đầu đất
nước phải biết nắm lấy cơ hội như Quang Trung Nguyễn Huệ, làm một cuộc
Bắc tiến. Ai trong số những người này có thể trở thành một Bắc Bình
Vương để cứu đất nước?
Phong Uyên