Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

Người Việt Nam KHÓC và HẬN toàn tập với 5 chứng cứ

Trích từ ý kiến ở Dân Luận 
1. Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của VNDCCH 15/6/1956 công nhận quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa về mặt lịch sử là một phần lãnh thổ của Trung Quốc.
2. Công hàm Phạm Văn Đồng 14/9/1958 chính thức công nhận.
3. Báo Nhân Dân ngày 13/5/1969 viết "ngày 10 tháng 1 máy bay quân sự Hoa Ki xâm phạm không phận của Trung Quốc trên Vĩnh Hưng (Yongxing) và đảo Đông (Dongdao) của quần đảo Tây Sa thuộc tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc.
4. Tập Bản đồ thế giới do của Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam xuất bản tháng 5 năm 1972 cũng ghi quần đảo Tây Sa và Nam Sa theo tên Trung Quốc.
5. Sách địa lý lớp 9 (1974)
Trích Tài liệu của Bộ ngoại giao nước CHNHTH - 30/01/1980:
CHỦ QUYỀN KHÔNG TRANH CÃI CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO TÂY SA VÀ NAM SA
SỰ MAN TRÁ CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM

Cần phải chỉ ra rằng trước đây không hề có tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam về quyền sở hữu quần đảo quần đảo Tây Sa (VN gọi là Hoàng Sa -ND) và Nam Sa (Trường Sa - ND). Trong một thời gian dài, dù trong các tuyên bố và các công hàm của chính phủ, hay trong sách báo, tạp chí, bản đồ và sách giáo khoa, phía Việt Nam đều chính thức thừa nhận hai quần đảo này là lãnh thổ Trung Quốc từ thời xa xưa.
Ngày 15 tháng 6 năm 1956 Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của VNDCCH tiếp Đại biện lâm thời của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lí Chí Dân (Li Zhimin) có nói với ông rằng, “theo dữ liệu của Việt Nam, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa về mặt lịch sử là một phần lãnh thổ của Trung Quốc”. Lê Lộc, Quyền Vụ trưởng Vụ châu Á của Bộ Ngoại giao Việt Nam, có mặt trong buổi tiếp, đặc biệt nêu ra dữ liệu của Việt Nam và chỉ ra rằng, "xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã là một phần của Trung Quốc vào thời nhà Tống".
Trong tuyên bố ngày 04 tháng chín năm 1958, Chính phủ nước CHNDTH tuyên bố bề rộng của lãnh hải của nước CHNDTH là mười hai hải lí và quy định rõ ràng rằng "quy định này áp dụng cho tất cả các vùng lãnh thổ của CHNDTH, bao gồm. . . quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc ". Ngày 06 tháng 9 năm 1958 báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam, in nổi bật trên trang nhất các chi tiết của Tuyên bố của Chính phủ Trung Quốc. Bài báo viết: "Vào ngày 04 tháng 9 năm 1958 Chính phủ CHNDTH đã ra Tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc. Tuyên bố này quy định rằng chiều rộng của lãnh hải Trung Quốc là mười hai hải lí (hơn 22 km). Quy định này áp dụng cho mọi vùng lãnh thổ của nước CHNDTH bao gồm cả lục địa Trung Hoa và các đảo ven bờ, cũng như Đài Loan và các đảo xung quanh, quần đảo Bành Hồ (Penghu), quần đảo Ðông Sa (Pratas), quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa (Maclesfield), quần đảo Nam Sa và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc ngăn cách với đất liền và các đảo ven bờ bởi các vùng biển công(biển quốc tế).” Ngày 14 tháng 9 cùng năm, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng của phía Chính phủ Việt Nam long trọng tuyên bố trong công hàm gửi cho Thủ tướng Quốc Vụ Viện TQ Chu Ân Lai rằng "Chính phủ nước Việt-nam Dân chủ Cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Cộng hoà dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.", và rằng "Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy". Công hàm của Phạm Văn Đồng cho thấy rõ ràng rằng Chính phủ Việt Nam thừa nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc (xem phụ lục 4).
Trong tuyên bố ngày 09 tháng năm 1965 về việc CP Mĩ quy định "vùng chiến sự" cho lực lượng của họ tại Việt Nam, Chính phủ nước VNDCCH nêu rằng đó là "một mối đe dọa trực tiếp đến an ninh của nước VNDCCH và các nước láng giềng" vì "Tổng thống Mĩ Lyndon Johnson đã chỉ định toàn bộ Việt Nam và các vùng biển liền kề kéo dài từ bờ biển của Việt Nam ra khoảng 100 km và một phần của lãnh hải của CHNDTH trong quần đảo Tây Sa của TQ làm "vùng chiến sự" của lực lượng vũ trang Hoa Kì". Ở đây, Chính phủ Việt Nam một lần nữa đã công nhận rõ ràng quần đảo Tây Sa là một phần lãnh thổ của Trung Quốc.
Khi tường thuật việc nước ngoài xâm nhập quần đảo Tây Sa, báo chí Việt Nam cũng rõ ràng thừa nhận những đảo này là thuộc về Trung Quốc. Ví dụ, báo Nhân Dân ngày 13 tháng 5 năm 1969 viết "ngày 10 tháng 1 máy bay quân sự Hoa Ki xâm phạm không phận của Trung Quốc trên Vĩnh Hưng (Yongxing) và đảo Đông (Dongdao) của quần đảo Tây Sa thuộc tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc." Nhiều bài báo tương tự đã được thực hiện trên báo chí Việt Nam.
Bản đồ chính thức và sách giáo khoa của Việt Nam cũng rõ ràng thừa nhận quần đảo Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc. Ví dụ, Bản đồ thế giới do Cục Bản đồ của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện năm 1960 ghi hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa theo tên Trung Quốc và ghi chú trong ngoặc rằng chúng thuộc về Trung Quốc. Tập Bản đồ thế giới do của Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam xuất bản tháng 5 năm 1972 cũng ghi quần đảo Tây Sa và Nam Sa theo tên Trung Quốc của họ (xem phụ lục 5). Một ví dụ khác là bài học mang tên "CHNDTH" trong sách giáo khoa địa lí cho học sinh lớp 9 do nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành năm 1974 có ghi như sau: "Chuỗi đảo từ quần đảo Nam Sa và Tây Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, quần đảo Bành Hồ và quần đảo Chu Sơn. . . có hình dáng như một cánh cung tạo thành một bức tường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc."
Người Việt Nam nhấn mạnh ở mức nghiêm túc rõ ràng rằng để thiết lập chủ quyền lãnh thổ cần phải trình ra "các tài liệu nhà nước chính thức" và "các văn bản có hiệu lực pháp lí". Những gì mà chúng tôi nêu ra ở trên đúng là "các tài liệu nhà nước chính thức" và "các băn bản có hiệu lực pháp lí" của Việt Nam. Điều này cho thấy rõ ràng rằng cho đến năm 1974, Chính phủ Việt Nam vẫn còn công nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ Trung Quốc. Bây giờ, chính quyền Việt Nam đã nuốt lời và man trá quay đi khỏi lập trường ban đầu của họ về việc công nhận quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là lãnh thổ Trung Quốc, và điều này là một cái gì đó hoàn toàn không được phép làm theo luật quốc tế.
Phụ lục 4: Công hàm Phạm Văn Đồng 14/9/1958
Phụ lục 5: Bản đồ thế giới tháng 5/1972
Hết mở miệng, cắn răng, bó tay!!!!!!!!!!!!

Lưu trữ

Tự điển



Tự điển Việt Nam
đã được bổ sung những ý nghĩa "chính thức"