Lê Phú Khải
Với những người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội như tôi, cầu Long Biên là
một bản đàn trong yên lặng nhưng luôn réo rắt trong tâm hồn. Nó là ký
ức tập thể của cộng đồng người Hà Nội. Không có gì khắc sâu trong tâm
trí người Hà Nội suốt 100 năm qua bằng hình ảnh cây cầu dài nhấp nhô như
con rồng thép khổng lồ bay qua song Hồng suốt bốn mùa xuân hạ thu đông…
Hỏi một người Hà Nội đi xa: Anh nhớ nhất cái gì ở Hà Nội? Trả lời:
Hình ảnh cây cầu Long Biên. Hỏi một nhà nghiên cứu lịch sử: “Vật chứng”
các biến cố của Hà Nội suốt trăm năm qua? Trả lời: Cây cầu Long Biên.
Hỏi một anh cán bộ miền Nam, nói đúng hơn là cậu học sinh miền Nam theo
cha mẹ đi tập kết ra Bắc sau năm 1954, bây giờ đã là một ông già ngoài
70 tuổi sống ở Sài Gòn: Ông nhớ nhất cái gì ở Hà Nội? Trả lời: Cầu Long
Biên! Ông đã kể: Tháng ngày đi học cuốc bộ từ Gia Lâm qua cầu Long Biên
sang Hà Nội rồi lại về, ông đã đếm được mấy vạn cái đinh bù-loong trên
cây cầu sắt này. Đếm để quên quãng cầu dài, quên bụng đói… Con số mấy
vạn cái đinh bù-loong ấy theo ông suốt cả đời (!).
Chỉ sau hai tháng nhận chức (tháng 02/1897) toàn quyền Đông Dương
Paul Doumer đã đặt bút phê chuẩn dự án cầu Doumer tức cầu Long Biên ngày
nay.
Ngày 13-09-1898 hãng thiết kế thi công Daydé – Pillé khởi công xây
cầu. Theo thiết kế, cầu có chiều dài 3500 m, trừ hai trụ cầu bờ Bắc và
Nam, cầu có 17 trụ cầu chôn sâu dưới lòng sông 30 mét, móng nổi từ mặt
nước đến mặt cầu là 44 m đảm bảo tàu bè qua lại khi nước sông lên đến
13,5 m . Chín khung dầm sắt khổng lồ nối 19 nhịp lớn với nhau, mỗi khung
dài 61 m. Cầu rộng 30,6 mét, có một đường tàu hỏa ở giữa và hai đường
bộ hai bên. Đến năm 1921 cầu được mở rộng thêm 2,6 m cho các loại ô tô
và 0,8 m cho người đi bộ hai bên.
Sau 4 năm thi công, 8 giờ 35 phút ngày 28/2/1902 cầu được khánh
thành. Sáng hôm đó, chuyến tàu hỏa khởi hành từ ga Hàng Cỏ với 8 toa, có
hai toa dành riêng cho vua Thành Thái và toàn quyền Doumer, 6 toa còn
lại chở các quan khách, trong đó có cả vua Malayxia, đại diện triều đình
Mãn Thanh… từ từ vượt sông Hồng. Thời điểm đó, Long Biên là một trong
những cây cầu đẹp nhất thế giới.
Từ thời khắc đó cầu Long Biên trở thành “vật chứng” lịch sử của Hà Nội.
Ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, ở chân cầu Long Biên tự vệ bãi
Phúc Xá đã cho nổ bom chặn đường tiếp tế của địch từ phía Gia Lâm. Dưới
chân cầu, trong đêm tối những đoàn quân cuối cùng đã rút khỏi Hà Nội để
bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Người Hà Nội không bao giờ quên
câu chuyện đau thương về một người mẹ trẻ, để bảo vệ Trung đoàn Thủ đô
vượt sông trong đêm đã phải bịt mồm đứa con của mình. Em bé đã hy sinh
để đoàn quân trong đêm vượt sông an toàn ngay dưới chân cầu trước mũi
súng của giặc…
Ngày 9/10/1954 cầu Long Biên chứng kiến những người lính Pháp bại
trận cuối cùng rút khỏi Hà Nội. Nó còn chứng kiến những phi công tù binh
Mỹ qua cầu năm 1973 để sang sân bay Gia Lâm trao trả về Mỹ.
Cả một thời gian dài cầu Long Biên là mục tiêu quan trọng trong chiến
tranh phá hoại của Mỹ với Hà Nội. 14 lần cầu bị ném bom. Ngày
11/08/1967 cầu bị phá hỏng nặng ở 5 nhịp, riêng nhịp 15 rơi hẳn xuống
sông. Sau hai tháng sửa chữa cầu được khôi phục. Ngày 25/10/1967 cầu lại
bị “chém” ngang thân tại nhịp số 10, một nửa nhịp rơi xuống sông, nửa
còn lại ghếch lên trời. Phải đánh mìn định hướng mới cắt bỏ được phần
hỏng. Sau hai lần chỉ trong bốn ngày vào tháng 12/1967 máy bay Mỹ lại đã
dội bom trúng cầu và lần này cầu bị thiệt hại nặng nề, 6 trụ bị tiện
đứt, 7 nhịp bị phá hủy. Nửa năm sau cầu hư hại 6 nhịp, phải 6 tháng sau
cầu mới được phục hồi. Chưa có cây cầu nào trên trái đất này mang nhiều
thương tích trên mình như thế. Và cũng chưa có cây cầu nào chuyên chở
trên mình nó nhiều trọng trách, mang vác trên mình nó nhiều hàng hóa,
vật tư hữu dụng cho con người như thế. Nó đã mang vác lịch sử đau thương
và anh dũng của người Hà Nội trên lưng mình cả 100 năm từ lúc nó chào
đời.
Những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ với Hà Nội, những người lính
trực chiến trên nóc cầu Long Biên đã biên thư, gọi điện đề nghị với Đài
tiếng nói Việt Nam phải sửa lại nội dung, sửa lại trật tự các cụm từ
trong thông báo “Báo động có máy bay xâm phạm bầu trời Hà Nội”. Số là,
khi nhận được lệnh báo động, đài phát: “Đồng bào chú ý,… đồng bào chú
ý!!! Có một tốp máy bay địch xuất hiện ở phía (Tây Nam hoặc Đông Nam)
thành phố…”. Các chiến sỹ cao xạ pháo trực chiến trên các ụ súng bố trí
trên các nóc cầu Long Biên đã rất sốt ruột khi phải nghe các âm thanh
“Đồng bào chú ý… đồng bào chú ý… có một tốp…” mà nóng lòng muốn nghe từ
hướng nào máy bay xâm phạm vùng trời Hà Nội để quay mũi súng về hướng đố
đón chờ chúng đến. Một giây với người lính canh gác trên nóc cầu lúc đó
là sinh mệnh của chính mình và sinh mệnh của cây cầu. Vì thế các chiến
sỹ trực chiến đã đề nghị đài sẽ phát “Từ hướng (Tây Nam hay Đông Nam )
có một tốp máy bay… đang xâm phạm bầu trời Hà Nội… Đồng bào chú ý, đồng
bào chú ý…’’.
Cầu Long Biên đã sống những giây phút sinh tử với Hà Nội như thế. Kẻ
viết bài này có lần đã sang bãi Giữa tức bãi Phúc Xá ngay sau khi khói
bom đánh cầu Long Biên vừa tan để thăm một người trong dòng tộc và chứng
kiến tận mắt một thanh đường ray xe lửa dài đến hai mét đã bay hơn một
cây số vì sức ép của đạn rốc-két lao cắm xuống sân một gia đình nông dân
trên bãi Phúc Xá.
Những hình ảnh như thế không bao giờ phai lạt trong lòng một người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội như tôi.
Cầu Long Biên được làm cùng thời với tháp Eiffel ở Paris.
Eiffel được khánh thành năm 1889 để kỷ niệm 100 năm cách mạng Pháp
(1789 – 1889). Eiffel nặng 9700 tấn, trong đó có 7000 tấn kim khí, nhiều
hơn 1000 tấn so với cầu Long Biên. 225 công nhân làm việc cật lực trong
3 năm thì tháp được hoàn thành, cao 300 m, đó là cái tháp cao nhất thế
giới thời đó. Nhưng không một công nhân nào chết trong khi dựng tháp.
Còn cầu Long Biên thì hầu như ngày nào cũng có người Việt Nam chết vì
tai nạn lao động, do chết ngạt khi phải làm việc dưới hố móng sâu, do té
ngã từ trên cao... Chỉ riêng sự việc này cũng cho thấy tính chất hai
mặt của công cuộc “khai hóa” của thực dân Pháp ở nước ta. Doumer làm cầu
Long Biên nhằm khai thác, vận chuyển hàng hóa cướp bóc của dân ta,
nhưng khách quan nó lại tạo ra nền tảng cơ sở hạ tầng cho Hà Nội vào
thời đó, chỉ có một cường quốc như Pháp mới làm nổi. Hơn nữa Long Biên
còn là một cây cầu đẹp trong những cây cầu trên thế gian này. Cầu Long
Biên hùng tráng mà thanh tú, đến bây giờ nó vẫn đẹp, không hề tàn phai
sắc đẹp với thời gian.
Nhân nói về vẻ đẹp của cây cầu, tôi lại nhớ đến cầu Hàm Rồng, cũng do
Pháp xây dựng ở Thanh Hóa. Sau khi cầu bị bom Mỹ đánh sập, ta xây lại.
Ngày khánh thành cầu mới, các nhà văn, nhà báo được mời đi dự. Nghe nói
trong đoàn còn có nhà văn Nguyễn Tuân cùng đi nên ai cũng phấn khởi.
Nhưng khi đến đón cụ Nguyễn thì cụ lắc đầu không đi. Gặng hỏi mãi cụ
nói: Cái cầu Hàm Rồng xưa có nhịp trông nó đẹp lắm. Nay cầu mới thẳng
đuỗn như cái con c… chán lắm, không đi!!!
Những nhịp cầu lên xuống nhấp nhô của Long Biên như con rồng đang bay
qua sông Hồng đã in bóng vào chân trời Hà Nội những chiều hè, những đêm
sao, những bình minh… bất tận.
Vì lẽ đó mà người Pháp muốn “giữ gìn những ký ức của mình” ở Việt Nam
trong đó có cây cầu Long Biên đã hơn 100 tuổi, như họ đã tuyên bố. Còn
người Hà Nội thì xem Long Biên là một “mảng” tâm hồn mình, một “vật
chứng” của lịch sử, văn hóa.
Vậy có nên gỡ bỏ cầu Long Biên đi như mấy ông quan ở Hà Nội đã bàn?
Và nếu xây một cây cầu mới qua sông Hồng chỉ cách Long Biên có 30 m
thì khác nào… khác nào… xếp một hoa hậu đứng cạnh một anh lính dù Lê
Dương để chụp hình lưu niệm!!!
3/2014
L.P.K.