Nguyễn Hưng Quốc
Chiến thắng của liên đảng Tự do-Quốc gia
do ông Tony Abbot lãnh đạo kết thúc 6 năm cầm quyền của Đảng Lao động
của ông Kevin Rudd.
Thế là cuộc bầu cử tại Úc đã kết thúc vào tối Thứ bảy 7 tháng 9 với
kết quả là Liên đảng (bao gồm đảng Tự Do và đảng Quốc Gia) đã chiến
thắng một cách vang dội. Thật ra, kết quả ấy không có gì đáng ngạc
nhiên. Hầu như mọi người đã biết điều đó từ cả… mấy năm trước, một phần,
nhờ các cuộc điều tra dư luận (poll) được tổ chức khá thường xuyên, và,
theo kinh nghiệm từ lịch sử, khá chính xác, ở đó, Liên Đảng hầu như
luôn luôn dẫn đầu. Phần khác, những mâu thuẫn trong nội bộ đảng Lao Động
từ khi lên nắm chính quyền lần đầu vào năm 2007 và, đặc biệt, từ lần
thứ hai vào năm 2010, làm dân chúng Úc chán ngán và mất hết niềm tin vào
Lao Động, từ đó, giới lãnh đạo đảng Lao Động nói gì, đưa ra chính sách
gì, dù hay ho đến mấy, người ta cũng không nghe nữa.
Chính vì kết quả hầu như đã được biết trước từ lâu như vậy nên cuộc
tranh cử kỳ này khá nhàm chán. Phe thua, biết trước mình thua, nên tranh
cử một cách khá tiêu cực, chỉ nhắm giảm thiểu mức thua. Phe thắng, biết
mình thắng, nên tranh cử một cách rất dè dặt, chỉ cốt tránh sai lầm
khiến dân chúng bất mãn. Bởi vậy, cả hai bên hầu như đều tránh né việc
công bố các chính sách lớn có thể gây tranh cãi. Họ chỉ tập trung vào
những lời hứa hẹn nho nhỏ. Liên Đảng chỉ công bố việc hạch toán các chi
tiêu của mình vào những ngày cuối cùng của cuộc tranh cử. Không ai có
thì giờ để phân tích hay tranh luận.
Bản thân tôi, thành thực mà nói, không hề thấy chút hứng thú nào
trong việc theo dõi cuộc tranh cử. Ngay cả các cuộc tranh luận giữa các
nhà lãnh đạo hai bên, tôi cũng chỉ theo dõi một cách khá ơ hờ. Một phần,
tôi không thích cả hai; phần khác, những gì họ nói cũng chả có gì lạ.
Điều duy nhất tôi cảm thấy thích thú là những giờ phút cuối cùng của
cuộc bàu cử khi kết quả đã được phân định rõ rệt. Mà hình như lần bầu cử
nào cũng thế, tôi cũng đều theo dõi những giờ phút cuối cùng ấy một
cách không những say mê và còn đầy ngưỡng mộ. Theo tôi, văn hoá dân chủ ở
các quốc gia Tây phương thể hiện rõ nhất là ở những thời điểm ấy. Có
thể gọi đó là văn hoá chiến thắng và văn hoá chiến bại.
Ngay cả khi cuộc kiểm phiếu chưa kết thúc hẳn, nhưng biết trước là
mình không thể thắng được, việc đầu tiên mà thủ lãnh của bên thua cuộc
làm là điện thoại cho thủ lãnh bên thắng cuộc để, thứ nhất, nhìn nhận
mình thua; và thứ hai, chúc mừng người chiến thắng. Theo thông lệ, người
chiến thắng chỉ xuất hiện trước ống kính và công bố chiến thắng của
mình sau khi đã nhận được cú điện thoại của người thua cuộc. Khi người
thua cuộc, vì lý do nào đó, chưa nhìn nhận mình thua cuộc, người ta vẫn
kiên nhẫn chờ.
Trong bài diễn văn chính thức sau cuộc bầu cử, người thua cuộc bao
giờ cũng chúc mừng người chiến thắng, thừa nhận người chiến thắng đã
chiến thắng một cách xứng đáng, và kêu gọi các đảng viên trong đảng mình
chấp nhận cái kết quả đáng buồn và ngoài ý muốn đó. Sau đó, mới là việc
cám ơn những người dân đã bỏ phiếu cho mình. Và cũng cám ơn các nhân
viên cũng như gia đình đã ủng hộ mình.
Bài phát biểu của người chiến thắng cũng vậy. Bao giờ cũng dành một
phần để ca ngợi người thua cuộc. Trong thời gian tranh cử cũng như trước
đó, người ta không đồng ý với nhau về nhiều vấn đề, lúc nào cũng tranh
luận và tìm mọi cách để đả kích nhau, nhưng khi cuộc bầu cử kết thúc,
chuyện ai thắng ai thua đã rõ ràng, người ta lại quay sang ca tụng nhau.
Một trong những nội dung quan trọng trong bài diễn văn chấp nhận thắng
cử là, sau khi cám ơn những người bỏ phiếu cho mình, thủ lãnh bên chiến
thắng bao giờ cũng hứa hẹn một điều: chính phủ do họ lãnh đạo sẽ phục vụ
cho toàn dân, cho mọi người, chứ không phải cho những người đã bỏ phiếu
cho họ.
Mà không phải trong chính trị. Trong các giải thể thao cá nhân cũng
vậy. Sau trận chung kết, người thua, khi lên nhận giải nhì, cũng đều
dành những lời khen ngợi nồng nhiệt cho người đã đánh bại mình. Đến lượt
người thắng, khi lên nhận giải nhất, cũng hết lời khen ngợi đối thủ,
người bị mình đánh bại. Nghe hai người ca tụng nhau, người ta khó tưởng
tượng là trước đó, họ đã tranh đấu với nhau một cách gay gắt và quyết
liệt đến độ nào.
Việc nhìn nhận thất bại và khen ngợi đối thủ của mình như vậy, thật
ra, không phản ánh tư cách của những người chơi thể thao hay làm chính
trị. Những điều họ phát biểu có thể chỉ là những khuôn sáo. Tuy nhiên,
tôi thích cái khuôn sáo ấy và cho đó là một “thủ tục” rất cần thiết
trong sinh hoạt dân chủ. Chúng thể hiện thái độ tuân thủ các luật lệ
trong trò chơi, hoặc trò chơi thể thao hoặc trò chơi dân chủ.
Trong các trò chơi thể thao, khi tranh giải, người ta chơi hết sức,
nhưng khi có kết quả, người thua vẫn nhận mình thua. Không ai phân bua
tại thế này hay tại thế kia và tìm cách phủ nhận tài năng của người
chiến thắng. Người chiến thắng cũng vậy, khi trận đấu chấm dứt thì mọi
tranh chấp cũng chấm dứt, người ta lại xem đối thủ là bạn hoặc ít nhất,
đồng nghiệp. Và người ta đối xử với nhau nếu không tương ái thì cũng đầy
tương kính.
Trong chính trị cũng vậy. Chính trị là trò chơi của quyền lực. Quyền
lực vừa là mục tiêu người ta nhắm tới và cố đạt cho được đồng thời cũng
là phương tiện để người ta hành xử. Khi tranh giành quyền lực, người ta
không từ bất cứ thủ đoạn nào trong chừng mực luật pháp cho phép. Nhưng
khi đã có kết quả kẻ thắng người bại thì ai nấy đều chấp nhận. Không ai
lấy cớ dân chúng ngu dốt không phân biệt đúng sai, tốt xấu, hay dở để
đòi xoá ván bài, làm lại từ đầu. Luật lệ của trò chơi chính trị trong
các chế độ dân chủ là tôn trọng quyết định của dân chúng. Cho dù đa số
dân chúng có nhầm lẫn chăng nữa thì lá phiếu của họ vẫn phải được tôn
trọng. Thậm chí không ai dám chê bai những người bỏ phiếu cho đối thủ
của mình là nhầm lẫn. Nói chung, dưới chế độ dân chủ, người dân bao giờ
cũng có lý: Lý của những người muốn bảo vệ quyền lợi, trước hết, của
chính họ. Và bởi vì dân chúng có lý khi chọn lựa, người chiến thắng
trong các cuộc bầu cử cũng có cái lý cho việc chiến thắng: ngay cả khi
các chính sách của họ đưa ra không hoàn hảo hoặc bất khả thi, ít nhất họ
cũng hơn những người thất bại ở một điểm: họ biết cách thuyết phục quần
chúng.
Có thể nói văn hoá dân chủ chủ yếu dựa trên hai nền tảng chính: Một,
tôn trọng quyết định của đa số; và hai, mọi quyết định của đa số đều có
lý. Ngay cả giới bình luận chính trị cũng chấp nhận những điều đó. Đọc
các bài bình luận sau bầu cử, hầu như bao giờ cũng thấy người ta tập
trung phân tích lý do tại sao người thua bị thua và lý do tại sao người
thắng thắng nhưng không bao giờ, tuyệt đối không bao giờ, đổ lỗi cho
quần chúng, những người đã bỏ phiếu cho người chiến thắng ngay cả khi
người ấy, theo ý kiến riêng của nhà bình luận, hoàn toàn không xứng
đáng. Phê phán dân chúng, trong trường hợp tương tự, là vi phạm nguyên
tắc dân chủ. Là chà đạp lên văn hoá dân chủ. Thực chất là phản-dân chủ.
Ở Việt Nam, một trong những lý do chính nhà cầm quyền thường đưa ra
để từ chối việc chế độ đa đảng và việc tổ chức các cuộc bầu cử tự do là
trình độ dân chúng còn thấp. Tự bản thân nó, luận điệu ấy đã phản dân
chủ: Dân chúng, ngay cả khi ít học, vẫn biết bảo vệ quyền lợi của họ khi
chọn người để đại diện cho mình và điều hành đất nước. Hơn nữa, luận
điệu ấy còn là một cách tự phủ định chính mình: đã cầm quyền trên cả nửa
thế kỷ với bao nhiêu cuộc “cách mạng” ồn ào mà vẫn không nâng được
trình độ dân trí lên cái mức có thể bỏ phiếu một cách đúng đắn nhằm bảo
vệ quyền lợi của chính mình là sao? Chả lẽ trong chừng ấy năm, họ chỉ
làm được một việc duy nhất là ngu dân ư?
Thật ra, luận điệu ấy chỉ phản ánh sự thiếu tự tin của những người
cầm quyền. Mà thiếu tự tin cũng phải. Có thể nói, cùng với viễn kiến,
khả năng thuyết phục quần chúng là những tiêu chí quan trọng nhất để
đánh giá một người lãnh đạo. Thiếu viễn kiến, người ta, may lắm, có thể
là một nhà quản trị giỏi nhưng không phải, không thể là một người lãnh
đạo giỏi. Thiếu khả năng thuyết phục quần chúng, ngay cả khi có viễn
kiến thật hay, người ta, may lắm, chỉ là một nhà tham mưu, đứng sau màn
để hoạch định kế hoạch chứ không thể đóng vai một lãnh tụ. Vừa thiếu
viễn kiến vừa thiếu khả năng thuyết phục quần chúng, người ta chỉ có thể
trở thành những tên độc tài.