Phạm Vũ Lửa Hạ dịch và chú thích
pro&contra – Mô hình dân chủ xã hội như một
khả năng cạnh tranh hoặc chuyển đổi cho thể chế xã hội chủ nghĩa trên
danh nghĩa của Việt Nam gần đây được quan tâm trở lại, sau lời kêu gọi
thành lập một Đảng Dân chủ Xã hội của ông Lê Hiếu Đằng và ông Hồ Ngọc Nhuận.
Không ở đâu mô hình này đồng nghĩa với thành công hơn ở các nước Bắc
Âu, nơi các đảng dân chủ xã hội cầm quyền trong một thời gian dài – ở Na
Uy thậm chí từ 86 năm nay. Song bí quyết thành công của Bắc Âu hiện tại
có phải chỉ bắt nguồn từ mô hình dân chủ xã hội? Tháng Hai năm nay, tờ The Economist
có loạt bài phân tích Bắc Âu như một “siêu mô hình” đáng cho thế giới
học hỏi. Chúng tôi xin giới thiệu sau đây hai bài trong số đó.
________________
Các nước Bắc Âu có lẽ trị quốc tốt nhất thế giới
Cecil Rhodes [i] từng nhận xét rằng “sinh ra là người Anh coi như
trúng số độc đắc”. Ngày nay ta cũng có thể nói như vậy về người sinh ra ở
Bắc Âu. Các nước Bắc Âu không chỉ tránh được phần lớn những vấn nạn
kinh tế đang làm rung chuyển vùng Địa Trung Hải; mà còn tránh được phần
lớn những căn bệnh xã hội đang hành hạ nước Mỹ. Xét về bất cứ chỉ số nào
đo lường tình trạng ổn định và lành mạnh của một xã hội – từ các chỉ số
kinh tế như năng suất và đổi mới sáng tạo đến các chỉ số xã hội như
tình trạng bất bình đẳng và tội ác – các nước Bắc Âu quần hội ở gần đầu
bảng xếp hạng (xem bảng).

Tại sao khu vực hẻo lánh, dân cư thưa thớt, với mùa đông băng giá và
những vùng hoang vu mênh mông này lại thành công đến vậy? Đã có thời đa
số người dân các nước này chẳng ngần ngại ca ngợi chính phủ của họ, cái
chính phủ mà trong phần lớn thế kỷ 20 chính là những nhà dân chủ xã hội
nấp dưới một trong những vỏ bọc dân tộc khác nhau của họ. Chính phủ đó
đã cung cấp cho người dân các dịch vụ phúc lợi trọn đời, từ lúc lọt lòng
cho đến khi xuống mồ, cứu họ thoát khỏi cảnh sống khắc nghiệt của tổ
tiên họ hồi thế kỷ 19, và can thiệp để cứu các nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa thoát khỏi những cuộc khủng hoảng định kỳ.
Nhưng giới chủ trương thị trường tự do bới lông tìm vết trong cách
lý giải của giới ủng hộ vai trò can thiệp của chính phủ, và đưa một cách
giải thích khác đầy thuyết phục. Trong giai đoạn từ 1870 đến 1970, các
nước Bắc Âu nằm trong số các nước tăng trưởng nhanh nhất thế giới, nhờ
một loạt các cải cách có lợi cho kinh doanh chẳng hạn như thành lập các
ngân hàng và tư hữu hóa các khu rừng. Nhưng trong những năm 1970 và 1980
sự bành trướng thiếu kỷ cương của chính phủ khiến những cải cách đó
chựng lại. Giới chủ trương thị trường tự do nhận định rằng thành tựu
đáng nể gần đây của khu vực này là nhờ họ quyết tâm giảm chi tiêu chính
phủ và để cho giới kinh doanh được tự do hành động.
Vai trò của chính phủ trong việc cải thiện tình trạng bình đẳng cũng
đang bị đặt câu hỏi. Andreas Bergh, thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế học
Công nghiệp của Thụy Điển, nhận định rằng thu nhập [quốc dân] của Thụy
Điển đã giảm sút trước khi nhà nước phúc lợi xuất hiện, mà nhà nước phúc
lợi này là một hệ quả chứ không phải nguyên nhân của sự thịnh vượng của
Bắc Âu – và suýt giết chết con ngỗng đẻ trứng vàng.
Bản tường trình đặc biệt này [của tạp chí The Economist]
tán thành một số lập luận của giới chủ trương thị trường tự do. Các nước
Bắc Âu đã từng nhiễm thói quen chi tiêu cho phúc lợi nhiều hơn khả năng
trang trải của họ và thói quen dựa dẫm quá nhiều vào một số ít công ty
lớn. Họ hành động đúng khi cố gắng tinh giản nhà nước và tạo điều kiện
thuận lợi hơn cho kinh doanh. Nhưng sẽ sai lầm nếu [họ] hoàn toàn phớt
lờ vai trò của chính phủ.
Các nước Bắc Âu hãnh diện về tính trung thực và minh bạch của chính
phủ nước họ. Các chính phủ Bắc Âu bị giám sát chặt chẽ: ví dụ, ở Thụy
Điển ai cũng có quyền xem tất cả các hồ sơ chính thức. Các chính khách
bị bêu diếu, nếu họ nhảy khỏi yên xe đạp và chui vào xe limousine công.
Người Bắc Âu đã cộng thêm hai phẩm chất quan trọng vào tính minh
bạch: tính thực dụng và tính quyết đoán. Khi phát hiện rằng kiểu đồng
thuận dân chủ xã hội cũ không còn tác dụng, họ sẵn sàng từ bỏ nó mà
chẳng một lời bàn cãi ầm ĩ và áp dụng những ý tưởng mới từ đóng góp của
mọi giới chính trị bất kể tả hữu. Họ cũng tỏ ra hết sức quyết tâm trong
việc thực hiện triệt để các cải cách. Nếu thấy người Bắc Âu tử tế mà
tưởng họ nhu nhược yếu đuối là ta nhầm to.
Tính thực dụng giải thích tại sao sự đồng thuận mới đã nhanh chóng
thay thế sự đồng thuận cũ. Ví dụ, hiếm có chính khách Dân chủ Xã hội
Thụy Điển nào muốn bãi bỏ những cải cách bảo thủ được thực hiện trong
những năm gần đây. Tính thực dụng cũng giải thích tại sao dường như các
nước Bắc Âu thường có thể là nơi tập hợp đủ kiểu chính sách thiên tả và
thiên hữu.
Tính thực dụng cũng giải thích tại sao người Bắc Âu liên tục nâng
cấp mô hình của họ. Họ vẫn còn gặp nhiều vấn đề. Các chính phủ của họ
vẫn còn quá cồng kềnh và khu vực tư nhân ở các nước này còn quá nhỏ.
Thuế của họ vẫn còn quá cao và một số khoản phúc lợi của họ quá hào
phóng. Hệ thống đảm bảo công ăn việc làm linh hoạt (flexicurity) của Đan
Mạch quá coi trọng đến sự bảo đảm việc làm, nhưng quá coi nhẹ tính linh
hoạt. Sự phát triển bùng nổ dầu hỏa của Na Uy đang có nguy cơ tiêu diệt
tinh thần làm việc siêng năng cần mẫn. Quả là dấu hiệu xấu khi ở bất cứ
thời điểm nào cũng có hơn 6% lực lượng lao động nghỉ bệnh và khoảng 9%
dân số trong độ tuổi lao động sống bằng trợ cấp bệnh tật. Nhưng người
Bắc Âu tiếp tục áp dụng các cải cách cơ cấu mới, có lẽ là hơi chậm nhưng
đầy dứt khoát và cương quyết. Họ lại đang thực hiện những điều này mà
không hề hy sinh các đặc tính khiến mô hình Bắc Âu vô cùng có giá trị:
khả năng đầu tư vào vốn con người và bảo vệ cho người dân tránh khỏi
những xáo trộn vốn là một phần của hệ thống tư bản chủ nghĩa.
Noi gương Đan Mạch[ii]
Phần lớn các nước giàu hiện nay đang gặp những vấn đề mà người Bắc
Âu đã gặp vào đầu những năm 1990 – chi tiêu công cộng vượt quá tầm kiểm
soát và các chương trình phúc lợi an sinh quá hào phóng. Nam Âu cần đôi
chút tính quyết đoán của Bắc Âu nếu muốn kiểm soát tài chính công. Và Mỹ
cần đôi chút tính thực dụng của Bắc Âu nếu mong có cơ hội kiềm chế phúc
lợi an sinh và cải cách khu vực công cộng.
Người Bắc Âu chẳng hề đỏ mặt ngượng ngùng khi cần quảng bá các ưu
điểm của mô hình của họ. Các tổ chức nghiên cứu của Bắc Âu tiến hành
những nghiên cứu chi tiết bằng tiếng Anh về cách họ cải cách nhà nước.
Các chính khách tích cực bảo vệ quan điểm của mình ở các cuộc họp quốc
tế và các chuyên viên tư vấn Bắc Âu mang kinh nghiệm chuyên môn của mình
về khu vực công cộng đi bán khắp thế giới. Dag Detter đã đóng vai trò
chủ đạo trong quá trình tái cấu trúc danh mục đầu tư thương mại của nhà
nước Thụy Điển trong những năm 1990, chiếm hơn một phần tư khu vực kinh
doanh. Từ đó ông đã cố vấn cho chính phủ các nước ở Châu Á và Châu Âu.
Song khó mà hình dung được mô hình trị quốc của Bắc Âu có thể truyền
bá nhanh chóng, chủ yếu bởi vì tài năng trị quốc Bắc Âu mang tính đặc
thù, không giống ai. Việc trị quốc ở Bắc Âu xuất phát từ sự kết hợp địa
lý khắc nghiệt và lịch sử ôn hòa. Tất cả các nước Bắc Âu đều có dân số
ít,bởi vậy những người thuộc tầng lớp chóp bu cầm quyền phải hòa đồng
với nhau. Vua chúa các nước này sống ở những nơi tương đối giản dị và
giới quý tộc cũng phải kỳ kèo mặc cả với các nông dân và thủy thủ có suy
nghĩ độc lập.
Họ sớm đi theo chủ nghĩa tự do. Thụy Điển bảo đảm tự do báo chí vào
năm 1766, và kể từ những năm 1840 về sau Thụy Điển bãi bỏ chế độ ưu tiên
cho quý tộc khi giao phó những chức vụ cao cấp trong chính phủ, và tạo
ra hệ thống công quyền dựa trên năng lực và không có tham nhũng. Họ cũng
theo đạo Tin Lành – một tôn giáo giảm vai trò của giáo hội xuống chỉ
còn là người hỗ trợ và nhấn mạnh đến mối quan hệ trực tiếp giữa con
người và Thượng Đế. Một trong những ưu tiên chính của giáo hội Tin Lành
là dạy nông dân biết đọc.
Sự kết hợp giữa địa lý và lịch sử đã cung cấp cho các chính phủ Bắc
Âu hai nguồn lực quan trọng: sự tín nhiệm người lạ và lòng tin vào các
quyền cá nhân. Một khảo sát của Eurobarometer [iii] về sự tín nhiệm xã
hội tổng quát (khác với lòng tin trong gia đình) cho thấy các nước Bắc
Âu nằm ở các vị trí dẫn đầu (xem biểu đồ dưới đây). Giới kinh tế học cho
rằng sự tín nhiệm ở mức độ cao dẫn đến chi phí giao dịch thấp hơn –
không cần đến kiện tụng kiểu Mỹ hay những thương vụ “có qua có lại mới
toại lòng nhau” kiểu Ý để được việc. Nhưng các ưu điểm của Bắc Âu không
chỉ dừng lại ở đó. Sự tín nhiệm đồng nghĩa với việc những người tài đức
tham gia bộ máy công quyền. Công dân đóng thuế và tuân thủ luật lệ. Các
quyết định của chính phủ được nhiều giới tán thành.
Mức tín nhiệm của công chúng đối với các thể chế*

Tháng 11/2012, % trả lời “có xu hướng tín nhiệm” Finland = Phần Lan; Denmark = Đan Mạch; Sweden = Thụy Điển; Russia = Nga
* Gồm báo chí, các đảng phái chính trị, chính phủ quốc gia, Liên hiệp Châu Âu (EU) và Liên Hiệp Quốc. Nguồn: Ủy hội Châu Âu
Cuộc Khảo sát Các Giá trị Thế giới (The World Values Survey), đã thăm
dò các giá trị ở hơn 100 nước từ năm 1981, cho biết dân Bắc Âu là những
người có lòng tin lớn nhất thế giới về quyền tự chủ của cá nhân. Sự kết
hợp kiểu Bắc Âu giữa chính phủ quy mô lớn và chủ nghĩa cá nhân có thể
nghe kỳ lạ đối với một số người, nhưng theo Lars Tragardh, thuộc Đại học
Ersta Skondal University College ở Stockholm, người Bắc Âu dễ dàng hòa
hợp hai yếu tố này: họ xem công việc chính của nhà nước là cổ xúy quyền
tự chủ của cá nhân và tính cơ động xã hội (social mobility) [iv]. Bất cứ
luật lệ xã hội nào của Bắc Âu – đặc biệt là các luật gia đình trong
những năm gần đây – cũng có thể được chứng minh là ủng hộ quyền tự chủ
của cá nhân. Dịch vụ giữ trẻ phổ quát [v] giúp cho sinh viên thuộc mọi
tầng lớp và hoàn cảnh đạt được tiềm năng của mình. Việc đánh thuế tách
bạch đối với các cặp vợ chồng giúp người vợ được bình đẳng với người
chồng. Dịch vụ giữ trẻ phổ quát tạo điều kiện cho cả hai bậc cha mẹ có
thể đi làm toàn thời gian. Ông Tragardh có một cụm từ hữu ích để mô tả
tâm lý này: “chủ nghĩa cá nhân có sự can thiệp của nhà nước” (statist
individualism).
Người Bắc Âu mang theo thái độ này đối với chính phủ khi họ ra nước
ngoài. Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khoảng 1,3 triệu người, một
phần tư dân số Thụy Điển lúc đó, di cư, chủ yếu sang Mỹ. Nước Mỹ sáng
tác cả thể loại chuyện tiếu lâm về “những người Thụy Điển khờ khạo” và
thái độ sẵn sàng tuân thủ luật lệ của họ. Chính những người Thụy Điển
khờ khạo đã tạo nên các cộng đồng được quản lý tốt nhất ở Mỹ, chẳng hạn
như Minnesota. Thậm chí ngày nay những người Mỹ gốc gác Bắc Âu có khả
năng cao hơn 10% so với người Mỹ trung bình về chuyện tin rằng “phần lớn
mọi người có thể tin được”.
Quy mô lớn nhỏ không phải yếu tố duy nhất
Giới kinh tế học thường ngỡ ngàng về thành công kinh tế gần đây của
các nước Bắc Âu trong khi chính phủ các nước này có quy mô quá lớn. Theo
một quy tắc không chính thức trong giới chuyên môn, nếu số thu thuế
tính theo tỉ lệ phần trăm của GDP tăng lên 10 điểm phần trăm, thì thường
có tương quan với mức giảm nửa điểm phần trăm về tỉ lệ tăng trưởng kinh
tế hàng năm. Nhưng các con số như vậy cần được điều chỉnh để phản ánh
các lợi ích của tính trung thực và hiệu quả. Ví dụ, chính phú Ý ấn một
gánh nặng kinh khủng đè lên vai xã hội vì các chính khách điều hành
chính phủ chủ yếu lo chuyện vơ vét lợi lộc chứ không phải cung cấp dịch
vụ công cộng. Goran Persson, cựu thủ tướng Thụy Điển, từng so sánh nền
kinh tế Thụy Điển với một con ong – “với một cơ thể quá nặng nề và đôi
cánh nhỏ, cứ tưởng con ong không bay nổi, nhưng nó bay được”. Ngày nay
con ong đó vẫn đang giữ thể trạng khỏe mạnh và đang bay khỏe hơn nhịp
bay của nó trong mấy chục năm qua.
Nguồn: The Economist, 02-2-2013
Bản tiếng Việt © 2013 Phạm Vũ Lửa Hạ & pro&contra
_________________________
[i] Cecil John Rhodes (1853-1902) là doanh nhân Anh, nhà tài phiệt
ngành khai khoáng (chủ tịch đầu tiên của công ty kim cương De Beers), và
chính khách ở Nam Phi. Ông dùng gia sản của mình lập học bổng Rhodes
tài trợ cho sinh viên xuất sắc nước ngoài học ở Đại học Oxford. Học bổng
này được nhiều nguồn như tạp chí Time, nhà xuất bản Yale University Press, báo The McGill Reporter,và Associated Press xem là học bổng quốc tế danh giá nhất thế giới. (Wikipedia)
[ii] Nguyên văn: “getting to Denmark”. Theo Ian Morris, chủ đề trọng tâm của tác phẩm Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng
(The End of History and the Last Man, 1999) của Francis Fukuyama là
“noi gương Đan Mạch”. Tác giả Fukuyama ý muốn nói đến việc tạo ra những
xã hội ổn định, thanh bình, thịnh vượng, dung nạp mọi thành phần và tầng
lớp, và trung thực. Cũng như trong tiểu luận nổi tiếng Sự cáo chung của lịch sử
làm tiền đề cho cuốn sách này, Fukuyama xem đây là điểm tận cùng hợp lý
của phát triển xã hội, và cho rằng tính chất Đan Mạch đòi hỏi phải có
ba yếu tố: các nhà nước vận hành hiệu quả, chế độ pháp trị, và chính phủ
có trách nhiệm giải trình. (Ian Morris, How To Get to the End of History, Slate, 2 May 2011)
[iii] Eurobarometer là loạt khảo sát dư luận được thực hiện định kỳ
nhân danh Ủy hội Châu Âu kể từ năm 1973, về nhiều loại chủ đề liên quan
đến Liên hiệp Châu Âu ở các nước thành viên. (Wikipedia).
[iv] Tính cơ động xã hội (social mobility) là khái niệm về sự dịch
chuyển của các cá nhân, gia đình, hay nhóm người, trong một hệ thống
đẳng cấp hay giai tầng xã hội. Nếu sự dịch chuyển đó là thay đổi về vị
trí/chức vụ mà không thay đổi về tầng lớp xã hội, thì gọi là “cơ động
theo chiều ngang” (horizontal mobility). Ví dụ một người dịch chuyển từ
một chức vụ quản lý ở công ty này sang một chức vụ tương tự ở một công
ty khác. Nhưng nếu sự dịch chuyển làm thay đổi tầng lớp xã hội thì gọi
là “cơ động theo chiều dọc” (vertical mobility), và có thể “cơ động
hướng lên” (upward mobility) hoặc “cơ động hướng xuống” (downward
mobility). Một công nhân trở thành doanh nhân giàu có dịch chuyển lên
giai cấp cao hơn; một quý tộc có đất bị mất hết gia sản trong một cuộc
cách mạng dịch chuyển xuống giai cấp thấp hơn. (Bách khoa toàn thư
Britannica)
[v] Dịch vụ giữ trẻ phổ quát (universal day care) là hệ thống bảo đảm
mọi bậc phụ huynh đều có chỗ gửi con ở nhà trẻ mà không phải chờ đợi,
thường có mức phí thấp và cố định. Ví dụ, ở Thụy Điển hệ thống này chủ
yếu do nhà nước điều hành, chỉ có 20% đi nhà trẻ tư nhân. Năm 2002, nhà
nước Thụy Điển áp dụng khung phí tối đa, giúp hệ thống này càng dễ trang
trải hơn vì phí giữ trẻ mà phụ huynh đóng chiếm không quá 1 đến 3% thu
nhập của họ. (Devine, Dympna & Kilkenny, Ursula, Nordic childcare model best for economic and social wellbeing, Irish Times, 9 June 2011)