Phan Doãn Nam[*]
Nguyễn Cơ Thạch (1921-1998)
Tôi có vinh dự được làm việc dưới trướng của anh Nguyễn Cơ Thạch
ngay từ khi mới bước chân vào Bộ Ngoại giao. Nguyên là năm 1956, sau khi
học xong lớp Phiên dịch tiếng Anh của Bộ, tôi cùng anh Nguyễn Dy Niên
và anh Đặng Phong Hoàn được cử sang công tác ở Tổng Lãnh sự quán nước ta
mới mở tại New Delhi, Ấn Độ. Anh Thạch đã sang làm Tổng Lãnh sự ở đó
sáu tháng trước. Học xong lớp “Phiên dịch”, chúng tôi được trang bị
khoảng trên dưới 3000 từ tiếng Anh. Sang Ấn Độ tôi được anh Lưu Đoàn
Huynh, lúc bấy giờ là Chánh Văn phòng của Tổng Lãnh sự quán phân công
làm thường trực. Khi phân công công tác cho tôi, anh ấy bảo: “Sếp Thạch
sau này là người sẽ nắm toàn bộ Bộ Ngoại giao đấy. Ghê lắm đấy. Bây giờ ở
đây ai muốn gặp sếp Thạch đều phải qua cậu. Cho nên công tác thường
trực của cậu rất quan trọng. Cậu cố gắng lên”. Nghe bùi tai, tôi liền
chấp nhận công việc vì thấy cũng rất “oai”. Mặt khác, tôi nghĩ rằng làm
thường trực thì sẽ có nhiều thì giờ để học thêm tiếng Anh qua giao dịch
với khách. Khi không có khách thì đem sách ra học. Không ngờ thủ trưởng
Thạch thấy tôi lúc nào cũng cầm sách học nên luôn thăm hỏi và động viên
thêm. Tổng Lãnh sự quán hồi ấy chỉ vẻn vẹn có trên dưới 10 người. Ba
tháng sau, anh Huynh gặp lại tôi bảo “cậu không phải làm thường trực
nữa. Việc này sẽ giao cho một nhân viên người Ấn làm. Cậu lên giúp anh
Thạch làm thư ký riêng. Nhiệm vụ của cậu là báo cáo, nhắc nhở giờ giấc
các hoạt động hàng ngày của anh Thạch và phiên dịch cho anh Thạch khi đi
dự các cuộc chiêu đãi của Ngoại giao Đoàn". (Trong việc phân công nhiệm
vụ này, chủ ý của anh Thạch là nhằm giảm bớt công việc cho anh Huynh,
từ nay anh Huynh chỉ phải dịch trong các cuộc tiếp xúc quan trọng, đồng
thời tạo điều kiện cho tôi thực hành tiếng Anh, và bản thân anh cũng có
điều kiện để sử dụng vốn tiếng Pháp của mình). Tôi đã hết sức cố gắng
ngày đêm để hoàn thành nhiệm vụ mới. Với cương vị công tác này, tôi đã
đi theo phiên dịch cho anh Thạch dự trên 300 cuộc chiêu đãi. Công việc
này là rất khó khăn vì trình độ Anh văn của tôi còn quá non, nhiều khi
phải biến báo mới dịch được hết ý. Thường những chỗ nào bí thì tôi dịch
vòng quanh. Chẳng hạn có hôm tôi không biết tiếng Anh gọi “con gà mái”
là gì, tôi phải nói “vợ con gà trống”. Cũng may là thời gian ấy do còn
"mù" tiếng Anh, nên khi thấy tôi dịch mọi người ồ ra cười thì anh Thạch
lại khen tôi “dịch tốt”.
Thấy tôi làm “tốt” công tác như vậy, chẳng bao lâu sau thủ trưởng
Thạch bảo anh Huynh chuyển tôi sang làm công tác báo chí, phụ trách việc
xuất bản Bản tin hàng tháng của Tổng lãnh sự quán và công tác vận động
báo chí để chuẩn bị cho chuyến thăm Ấn Độ của Hồ Chủ Tịch (2/1958).
Anh Thạch rất coi trọng chuyến thăm này của Hồ Chủ Tịch vì nó là
chuyến thăm đầu tiên của Người sang một nước lớn không phải là XHCN. Hơn
nữa, Ấn Độ là Chủ tịch Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát việc thi
hành Hiệp định Geneve về Đông Dương. Cho nên trước chuyến thăm của Hồ
Chủ tịch, Ấn Độ sẽ đón Ngô Đình Diệm để giữ thế cân bằng. Để chuẩn bị
tốt cho chuyến thăm, anh Thạch bảo không những phải tranh thủ Ấn Độ đón
tiếp thật trọng thể Hồ Chủ Tịch, mà còn phải làm cho chuyến đi trở thành
một cột mốc đưa quan hệ hai nước nói chung và quan hệ giữa hai nhà lãnh
đạo lên một tầm cao mới và trở thành nền tảng của tình hữu nghị đời đời
giữa hai dân tộc. Với mục đích đó, anh Thạch chủ trương phải đi sâu
nghiên cứu quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc và lãnh tụ của hai nước.
Do Tổng Lãnh sứ quán quá ít người, anh đã cho thuê một người Ấn Độ tiến
bộ (do Đảng Cộng sản Ấn Độ giới thiệu) để sưu tầm tài liệu về quan hệ
hai nước. Anh em Tổng Lãnh sự quán (trong đó có tôi) cũng được phân công
đến các thư viện lớn của Ấn Độ để tìm tài liệu. Kết quả là đã sưu tầm
được một số lượng lớn tài liệu. Lúc này vốn tiếng Anh của anh Thạch đã
khá, nói chưa tốt, nhưng đọc rất tốt. Ngày đêm bản thân anh Thạch, tôi
và anh Huynh chia nhau đọc. Kết quả thật khả quan, qua đợt nghiên cứu
này, chúng tôi thấy được một số điểm rất hay, thiết thực phục vụ cho
chuyến thăm của Hồ Chủ Tịch. Một là, quan hệ Việt Nam – Ấn Độ có từ rất
lâu đời, có đến 1- 2 ngàn năm trước. Hai là, ảnh hưởng của Ấn Độ đối với
Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng là bằng con đường văn hóa,
tôn giáo (đạo Phật). Ba là, bản thân gia đình của Thủ tướng Nehru là một
gia đình trí thức tiến bộ. Thân sinh Thủ tướng Nehru là cụ Motilal
Nehru, một chiến sĩ chống đế quốc và đã gặp Hồ Chủ Tịch tại Bussels năm
1927 tại Hội nghị Quốc tế đại biểu các dân tộc bị áp bức. Anh Thạch đã
báo cáo những chi tiết này về nhà trình Hồ Chủ Tịch và đã được khen. Mặt
khác, Tổng Lãnh sự quán cũng dùng những mối quan hệ lâu đời để vận động
báo chí và các đoàn thể quần chúng trong tuyên truyền chuẩn bị cho
chuyến thăm của Hồ Chủ Tịch. Kết quả chuyến thăm đã thành công quá sự
mong đợi của ta. (Thật tình anh Thạch cũng không biết có phải do báo cáo
của Tổng lãnh sự quán hay không mà khi gặp Nehru ra sân bay đón, Bác đã
nói với Nehru là Bác có mang theo một vòng hoa để đến viếng mộ cụ
Motilal. Việc làm này đã làm cho Thủ tướng Nehru hết sức xúc động và
quan hệ giữa hai vị lãnh tụ trở nên hết sức thân mật ngay từ đầu chuyến
thăm).
Sau khi hết nhiệm kỳ công tác ở Ấn Độ về nước, anh Thạch được đề bạt
làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Tình hình ở Lào lúc đó rất phức tạp. Anh
được Bộ Chính trị cử làm Phó Trưởng đoàn (và sau đó là Quyền Trưởng
đoàn) tại Hội nghị Quốc tế Geneve về Lào. Đây là lần đầu tiên anh Thạch
dự một hội nghị quốc tế có thành phần đủ cả các nước lớn, đặc biệt là Mỹ
và Trung Quốc. Song với kiến thức về tình hình Lào do anh tự theo dõi
nghiên cứu và bản lĩnh chính trị vững vàng của mình, với những lập luận
sắc bén về luật pháp quốc tế mà anh đã tự học, anh Thạch đã thuyết phục
được Hội nghị chấp nhận phương án giải quyết vấn đề Lào do Việt Nam đề
xuất. Luật sư Trần Công Tường, một thành viên của Đoàn đã khen: "Qua Hội
nghị này Nguyễn Cơ Thạch đã trở thành một luật sư thực thụ".
Năm 1964, sau khi Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, anh Thạch
được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ phụ trách công tác đấu tranh chống Mỹ.
Để thực hiện nhiệm vụ được giao, đồng thời xem đây là dịp tốt để tổ chức
lại bộ máy nghiên cứu của Bộ Ngoại giao, anh Thạch đã thành lập ba vụ
mới trong Bộ: Vụ I, chuyên theo dõi động thái hàng ngày của Mỹ; Vụ II,
chuyên lo đối sách; và Vụ Nghiên cứu tư liệu, chuyên nghiên cứu cơ bản
về Mỹ. Đồng thời, để thu hút các đơn vị trong Bộ tham gia công tác theo
dõi âm mưu, ý đồ toàn cầu của Mỹ, anh Thạch đã chỉ thị tất cả các Vụ khu
vực phải theo dõi hoạt động và ý đồ của Mỹ trong quan hệ song phương
với các nước, đặc biệt với các nước lớn. Mặt khác, bản thân anh Thạch
cũng đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu chiến lược, chiến thuật, thủ đoạn ngoại
giao của Mỹ, nhất là đối với Việt Nam. Anh đã chỉ thị cho các cơ quan
đại diện của ta ở nước ngoài tìm mua sách báo nói về các vấn đề trên gửi
về trong nước để anh tự nghiên cứu, hoặc phân công cho cán bộ giỏi
ngoại ngữ đọc rồi báo cáo lại. Kết quả của công tác nghiên cứu này đã
thường xuyên được báo cáo lên Bộ Chính trị, giúp Bộ Chính trị đề ra các
bước đi thích hợp trong cuộc đấu tranh với Mỹ. Anh Thạch thường xuyên
được trường Nguyễn Ái Quốc và các Học viện khác mời giảng về Mỹ. Bộ
Chính trị rất tin tưởng anh và xem anh như là chuyên gia số 1 về Mỹ. Do
đó trong thời kỳ đầu đàm phán Paris, anh Thạch đã được giữ lại ở nhà để
giúp Bộ Chính trị theo dõi Hội nghị, chuyển ý kiến chỉ đạo của bộ Chính
trị đến Đoàn đàm phán. Sau chiến thắng Xuân – Hè (1972), Bộ Chính trị
chủ trương chuyển chiến lược đàm phán, từ chiến lược chiến tranh sang
chiến lược hòa bình và chỉ thị cho Tiểu ban CP50 (được thành lập từ năm
1971) do anh phụ trách soạn thảo “dự thảo Hiệp định Paris về Việt Nam”.
Suốt 3 tháng liền dưới sự chỉ đạo của anh Thạch, CP50 đã xây dựng xong
dự thảo. Anh làm việc miệt mài suốt ngày đêm, cân nhắc, chỉnh sửa từng
chữ, từng điều khoản và cuối cùng đã được Bộ Chính trị thông qua và ngày
8/10/1972 đồng chí Lê Đức Thọ đã chuyển cho phái đoàn Mỹ ở Paris.
Để giúp thực hiện việc chuyển chiến lược này, Bộ Chính trị đồng thời
cử anh Thạch sang Paris làm trợ lý cho đồng chí Lê Đức Thọ, kiêm Trưởng
Đoàn chuyên viên của phái Đoàn ta. Trong buổi thông báo nội bộ của
Đoàn, anh Phan Hiền, cũng là chuyên viên của Đoàn (sau Hội nghị Paris,
anh Phan Hiền được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Ngoại giao, sau đó làm Bộ
trưởng Bộ Tư pháp) đã cho anh em biết: “Lần này anh Sáu (Lê Đức Thọ)
sang có mang theo cả Pê-lê để chuyên làm bàn”. Anh em phấn khởi vỗ tay
ầm lên. Đúng anh Thạch là “Pê-lê” thật. Là người chủ trì việc khởi thảo
Dự thảo Hiệp định, anh Thạch thuộc lòng từng điều khoản, từng câu, từng
chữ của dự thảo Hiệp định. Anh lại rất thông thạo về luật pháp quốc tế.
Kissinger, người đối thoại chính của Cố vấn Lê Đức Thọ rất gờm anh Thạch
đến mức y gợi ý với đồng chí Lê Đức Thọ là đừng để anh Thạch dự các
cuộc họp hẹp giữa y với đồng chí vì “cứ mỗi lần chúng ta đi gần đến thỏa
thuận thì ông Thạch lại viết giấy đưa cho ông Cố vấn” (Lời của
Kissinger nói khi đi dạo riêng với đồng chí Lê Đức Thọ).
Tuy trong đấu tranh trên bàn hội nghị rất nghiêm chỉnh, không nhân
nhượng và kiên quyết bảo vệ lợi ích của dân tộc, đường lối của Đảng
trong quan hệ với Mỹ, nhưng vốn là người có tầm nhìn chiến lược anh
Thạch luôn luôn có thái độ thân mật, thậm chí, biết hài hước và không
làm cho đối phương tự ái, mà vẫn đạt được mục đích của mình.
Sau Hội nghị Paris, anh Nguyễn Cơ Thạch được bổ nhiệm làm Bộ Trưởng
Ngoại giao. Lúc đó bối cảnh quốc tế của nước ta bị xấu đi nghiêm trọng.
Các thế lực thù địch đã lợi dụng việc ta đưa quân vào Campuchia giúp
nhân dân bạn đánh diệt bè lũ diệt chủng Pôn-Pốt để tiến hành bao vây cấm
vận nhằm cô lập nước ta trên trường quốc tế. Tình hình đó đặt ra cho
ngoại giao nước ta nhiệm vụ hết sức khó khăn và phức tạp.
Việc tháng 2/1979 Trung Quốc xua 60 vạn quân tiến đánh nước ta dưới
danh nghĩa "dạy cho Việt Nam một bài học" đã biến quán hệ hai nước từ là
đồng minh chuyển sang thù địch. Trong bối cảnh phức tạp đó, anh Nguyễn
Cơ Thạch đã chỉ ra cho cán bộ nhân viên Bộ Ngoại giao thấy rằng "cuộc
hành quân xâm lược của Trung Quốc chỉ là một cuộc phô trương lực lượng
nhằm cổ vũ các nước ASEAN và phương Tây, đặc biệt là Mỹ tiếp tục chống
ta về vấn đề Campuchia và sẽ sớm chấm dứt". Trước sau như một anh Thạch
vẫn chủ trương giải quyết những bất đồng với Trung Quốc thông qua tiếp
xúc và thương lượng hòa bình để bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
Do đó, sau khi Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi 6 tỉnh biên giới, anh
Thạch đã báo cáo với Bộ Chính trị cho đề nghị với Trung Quốc mở các cuộc
đàm phán nhằm bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Các cuộc đàm phán
với Trung Quốc đã được mở ra ở Hà Nội và Bắc Kinh. Tuy chưa đạt được kết
quả gì, nhưng các cuộc đàm phán này đã làm cho các nước ASEAN và Mỹ
thấy rằng Trung Quốc vẫn không có ý cắt đứt quan hệ với Việt Nam. Trong
lúc chưa có thể nối lại các cuộc đàm phán trực tiếp và chính thức với
Trung Quốc, anh Nguyễn Cơ Thạch đã tranh thủ tiếp xúc với Đại sứ của
Trung Quốc ở Hà Nội và nhất là với Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc trong
thời gian dự họp Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ở New York. Anh Thạch đã
hai năm liền đến dự Lễ Quốc khánh của Trung Quốc tổ chức tại trụ sở của
LHQ, do Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc mời. Mặt khác, để tỏ thiện chí
với Trung Quốc và thay đổi nhận thức về Trung Quốc trong toàn đảng và
toàn dân anh Thạch đã trình lên Bộ Chính trị (20/5/1987) kiến nghị của
Bộ Ngoại giao bỏ câu "Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất"
trong lời nói đàu của Hiến Pháp và Điều lệ Đảng và đã được trên đồng ý.
Để chống lại âm mưu của các lực lượng thù địch nhằm bao vây cấm vận
nước ta, anh Thạch đã nghĩ ngay đến việc làm dịu quan hệ với Mỹ. Nhằm
mục đích này, anh Thạch đã đề nghị với Bộ Chính trị từng bước giải quyết
vấn đề người Mỹ mất tích trong chiến tranh. Đã hai lần ta đón tiếp
Tướng Vesey, đặc phái viên của Tổng thống Mỹ về người Mỹ mất tích (MIA –
POW). Đồng thời anh Thạch đã kiến nghị Bộ Chính trị hủy bỏ việc đòi Mỹ
bồi thường chiến tranh. (Anh đã nghiên cứu lại bức thư của Nixon gửi Thủ
tướng Phạm Văn Đồng về việc Mỹ sẽ đóng góp để hàn gắn vết thương chiến
tranh và phát hiện ra câu mà Kissinger đã thêm vào ở cuối thư là: “Hai
bên sẽ nghiêm chỉnh thực hiện cam kết này theo đúng luật pháp của mỗi
nước”). Như vậy là đã rõ. Điều này cho thấy không bao giờ ta có được sự
bồi thường của Mỹ. Việc ta cứ tiếp tục đòi Nixon phải thực hiện điều y
đã cam kết chỉ làm cho quan hệ hai nước càng khó được cải thiện. Dù
Nixon có “thiện chí” muốn đóng góp thì Quốc hội Mỹ cũng phủ quyết. Mà
Nixon thì không bao giờ có thiện chí đó. Những sáng kiến của Bộ Trưởng
Nguyễn Cơ Thạch, như đã nói ở trên đã thúc đẩy một bước việc bình thường
hóa quan hệ hai nước nước. Ngày 18/7/1990 Ngoại trưởng Mỹ James Baker
tuyên bố Hoa Kỳ không ủng hộ ghế của Campuchia Dân chủ tại Liên hợp quốc
và sẽ đàm phán trực tiếp với Việt Nam để tìm giải pháp cho vấn đề
Campuchia. Tiếp đó, ngày 17/10/1990 Ngoại trưởng Mỹ đã chính thức mời Bộ
trưởng Nguyễn Cơ Thạch sang thăm thủ đô Hoa Kỳ. Qua những sự kiện này
có thể thấy hoạt động của Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã giúp khởi động
cho quá trình đi đến bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, diễn ra 5
năm sau đó dưới thời Tổng thống Clinton. Sự chuyển động trong quan hệ
giữa ta và Mỹ đã có tác động to lớn góp phần làm sụp đổ hàng rào bao vây
cấm vận kéo dài 10 năm do các thế lực thù địch dựng lên chống ta chung
quanh vấn đề Campuchia. Do thấy Mỹ liên tục cử đoàn, gồm các quan chức
cấp cao của Chính phủ và Quốc hội vào ta, các nước phương Tây khác cũng
bắt đầu cỉa thiện quan hệ với ta. Pháp ký Nghị định thư viện trợ cho ta
(1982) và Ngoại trưởng Pháp thăm ta (1983). Tiếp sau đó Ngoại trưởng
Phần Lan (1984) và Ngoại trưởng Thụy Điển (1985) thăm ta. Cũng trong
thời gian này, EEC nối lại viện trợ lương thực cho ta để khắc phục thiên
tại. Ngoain trưởng Tây Đức (1980) và Ngoại trưởng Nhật Bản (1984) đã
đón Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.
Trong cuộc đấu tranh ngoại giao về vấn đề Campuchia, được sự ủy
nhiệm của Bộ Chính trị anh Nguyễn Cơ Thạch hầu như được toàn quyền hoạt
động (lúc cần thiết thì trao đổi ý kiến với Thủ tướng Phạm Văn Đồng và
đồng chí Lê Đức Thọ). Theo sáng kiến của anh Thạch và được lãnh đạo Lào
và Campuchia đồng ý, Hội nghị Ngoại trưởng 3 nước Việt Nam - Lào -
Campuchia đã họp 6 tháng một lần, với địa điểm luân phiên giữa 3 nước.
Sau mỗi lần họp, có một cuộc họp báo quốc tế để công bố những sáng kiến
mới của 3 nước về giải pháp cho vấn đề Campuchia. Tại các cuộc họp báo
này, Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch thường phải "đứng mũi chịu sào” và thật
thú vị là hầu hết các phóng viên của các nước ASEAN và phương Tây tác
nghiệp ở Thái Lan đã đến tham dự để nghe Bộ trưởng Thạch nói. Anh Thạch
là người có tài hùng biện, rất có duyên với báo giới nên các cuộc họp
báo này là những dịp rất tốt để giải thích chính sách của ta và qua các
phóng viên (lại rất thích thú lắng nghe anh Thạch nói) giúp dư luận dần
dần có nhận thức rõ hơn về sự thật cái gọi là “vấn đề Campuchia”, nhất
là việc ta có quân ở Campuchia chỉ là nhằm giúp nhân dân Campuchia chống
lại nạn diệt chủng Pôn Pốt.
Hai là, anh Thạch với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao Việt nam hàng
năm có sang trao đổi với Ngoại trưởng các nước ASEAN về vấn đề
Campuchia. Các Ngoại trưởng ASEAN tuy không thể sang Việt Nam vì họ đang
“bao vây cấm vận” Ta, nhưng họ rất muốn biết ý đồ thực sự của Ta cho
nên họ đón tiếp Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch rất trọng thị và thân tình.
Tuy lúc bấy giờ Thái Lan được các nước ASEAN xem như là “nước tiền
tuyến” trong cuộc đối đầu với ba nước Đông Dương, nhưng tại Thái Lan
nguyên Thủ tướng Kriengsak, đương kim Phó Thủ tướng Pichai Ratakul lại
nhận anh Thạch làm anh em. Việc này đã ảnh hưởng đến thái độ của đương
kim Ngoại trưởng Thái Lan Xa-vet Xila vốn có lập trường cứng rắn trong
vấn đề Campuchia. Ở Philippine, Ngoại trưởng Alberto Gatmaitan Romulo,
một chính khách nổi tiếng sống từ thời Chiến tranh Thế giới thứ 2 đã ra
tận sân bay đón anh Thạch. Tổng thống Philippine Ferdinand Marcos đã cho
máy bay riêng của ông ta chở Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đi tham quan
Viện lúa quốc tế IRRI. Đặc biệt thân tình là các cuộc làm việc ở
Indonesia và Malaysia. Ở đây các nhà lãnh đạo đã nói với Ta là họ hoàn
toàn hiểu sự lo ngại của ta về các thế lực thù địch, nhất là các lực
lượng đứng sau Pôn Pốt. Việc ta đưa quân vào Campuchia để diệt bè lũ Pôn
Pốt là đúng, nhưng không nên ở lâu quá gây ra một tiền lệ nguy hiểm ở
Đông Nam Á.
Do kết quả của các cuộc đi thăm và trao đổi trực tiếp giữa Ngoại
trưởng của các nước ASEAN (đặc biệt với Ngoại trưởng Indonesia) và nhất
là việc Việt Nam hoàn thành việc rút quân tình nguyện ở Campuchia về
nước tháng 9/1989, (anh Thạch là người đề xuất với Bộ Chính trị chủ
trương này từ năm 1982) quan hệ đối thoại giữa 3 nước Việt Nam, Lào và
Campuchia với các nước ASEAN được chính thức xác lập, tạo điều kiện
thuận lợi cho thành công của Hội nghị Paris về Campuchia, thể hiện qua
Hiệp định giải quyết vấn đề Campuchia (1991). Tuy rằng lúc này anh Thạch
không còn là Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam và Hiệp định Paris không
diễn ra theo cách ta mong muốn, nhưng hai điểm cốt lõi của Hiệp định mà
anh Thạch luôn luôn giữ vững trong các cuộc đối thoại với các nước
ASEAN đã được thực hiện. Đó là: Loại trừ chủ nghĩa diệt chủng và sự liên
hiệp giữa chính phủ Hunsen và Sihanouk (ít người biết rằng chính Bộ
trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã bàn và khuyến khích ông Hunsen sang Pháp gặp
Hoàng thân Sihanouk từ năm 1983).
Lãnh đạo các nước rất khâm phục và quý mến anh Nguyễn Cơ Thạch. Anh
là Bộ trưởng Việt Nam không những được giới học giả, báo chí thế giới
yêu mến và kính trọng, mà còn được rất nhiều bạn đồng nghiệp ở các nước
ASEAN, các nước xã hội chủ nghĩa và một số nước phương Tây khâm phục.
Sẽ là một thiếu sót lớn khi nói đến công lao của Bộ trưởng Nguyễn Cơ
Thạch nếu không đề cập đến đóng góp của anh trong việc xây dựng Bộ
Ngoại giao trưởng thành như ngày nay. Sau khi đất nước được thống nhất
và Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt
Nam được sáp nhập vào Bộ Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Bộ
trưởng Nguyễn Cơ Thạch nhận thấy cần phải tổ chức lại Bộ Ngoại giao cả
về cơ cấu tổ chức bộ máy lãnh đạo, lẫn nội dung hoạt động và công tác
đào tạo cán bộ.
Anh Thạch coi đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng phải làm với phương
châm là "tiến hành từng bước và việc gì cần làm trước thì làm trước”.
Việc đầu tiên mà Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch triển khai ngay sau năm
1975 là tổ chức lại công tác nghiên cứu của Bộ. Dưới sự chỉ đạo của anh
Thạch, công tác nghiên cứu cơ bản và dự báo chiến lược của Bộ đã được
đầu tư thích đáng cả về trí tuệ lẫn vật chất, từ đó Bộ Ngoại giao đã làm
tốt chức năng tham mưu cho Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, góp phần đề xuất
nhiều chủ trương đường lối, cũng như biện pháp cụ thể trong việc triển
khai đường lối chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ
mới. Để đẩy mạnh công tác nghiên cứu của toàn Ngành, nhằm nắm vững tình
hình thế giới, về mặt tổ chức anh Thạch đã quyết định: Đưa tổ Động thái
thuộc Vụ I lên Văn phòng Bộ để ra Bản tin A và thông báo tin tức cho
toàn Bộ mỗi buổi sáng; thành lập Vụ Bắc Mỹ trên cơ sở sáp nhập Vụ I và
Vụ II; và thành lập Viện Quan hệ Quốc tế trên cơ sở sáp nhập Trường Đại
học Ngoại giao và Vụ Nghiên cứu tư liệu. Đồng thời, anh Thạch chỉ thị
tất cả các Vụ trong Bộ phải có các công trình nghiên cứu cấp Vụ về các
vấn đề cơ bản liên quan đến nước hoặc khu vực mình phụ trách. Trong phạm
vi Bộ, Đồng chí chỉ thị hàng tháng, 6 tháng và hàng năm phải có sơ kết,
tổng kết tình hình thế giới và khu vực, công tác đối ngoại của ta trong
thời gian đó. Hàng ngày vào đầu giờ làm việc, Bộ đã thực hiện đều đặn
họp giao ban và cập nhật thông tin cho đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo
của Bộ từ cấp Phòng trở lên.
Để giúp anh em có thể làm tốt công tác nghiên cứu, anh Thạch đã
đích thân giảng về phương pháp nghiên cứu ngoại giao, kết hợp phân tích
chi tiết và đánh giá tổng hợp để tìm ra chân lý và rút ra kết luận cần
thiết về các vấn đề nghiên cứu. Công tác nghiên cứu của Bộ có nề nếp như
hiện nay là nhờ sự khởi động này của Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch. Anh
Thạch còn trực tiếp chỉ đạo nhóm xây dựng chiến lược của Mỹ, Trung Quốc,
Liên Xô, Nhật Bản, Tây Âu. Nhóm này gồm các đồng chí Vụ trưởng, chuyên
gia lão thành của Bộ, được tập trung thời gian ba năm để xây dựng các
chiến lược nhằm tham mưu cho Bộ Chính trị đưa ra các quyết sách đúng đắn
với các nước lớn nói trên.
Việc thứ hai mà anh Thạch khởi xướng là ngoại giao Kinh tế. Đây là
công việc rất mới mẻ đối với nước ta, nên lúc đầu khi triển khai đã gặp
nhiều khó khăn và trở ngại, nhất là về quan điểm (Bộ Ngoại giao có nên
làm nhiệm vụ ngoại giao kinh tế hay không). Nhiều người, trong đó có cả
những cán bộ được điều động tham gia không tán thành quan điểm của anh
Thạch với lý do là sẽ chồng chéo lên nhiệm vụ của các bộ, ngành kinh tế
khác. Để vượt qua khó khăn này, bản thân anh Thạch đã ngày đêm học tập
qua sách vở, qua các chuyên gia kinh tế trong nước và nước ngoài để có
cơ sở lập luận, thuyết phục mọi người. Đồng thời với việc truyền đạt các
kiến thức học được cho anh em cán bộ, anh Thạch còn chỉ đạo dịch các
tài liệu và sách giáo khoa về kinh tế học của các chuyên gia tầm cỡ quốc
tế người Mỹ, Anh, Pháp…và các tổ chức quốc tế như IMF, WB…để cán bộ
nghiên cứu trong Bộ tham khảo. Về mặt tổ chức, anh Thạch đã cho thành
lập Vụ chuyên trách gọi là Vụ Tổng hợp Kinh tế - Văn hóa. Về sau nhiều
cán bộ của Vụ này đã trở thành các cán bộ lãnh đạo của nhiều cơ quan
kinh tế trong nước như Văn phòng Thủ tướng, Bộ Thương mại, Tổng cục Du
lịch…
Việc thứ ba anh Thạch thực hiện là cải tổ cách quản lý của Lãnh đạo
Bộ Ngoại giao. Trước đó mỗi thành viên Lãnh đạo Bộ được phân công phụ
trách một khu vực hoặc lĩnh vực. Tình hình này làm cho Lãnh đạo Bộ không
có được cái nhìn tổng thể, ảnh hưởng đến công tác chung của Bộ, nảy
sinh tư tưởng “cục bộ”, “vương quốc”, không ai muốn bị người khác lấn
sân trong phạm vi khu vực mình phụ trách. Để khắc phục tình trạng này và
giúp Lãnh đạo Bộ có cái nhìn bao quát chung về nội bộ cũng như đối
ngoại, anh Thạch đã cho thành lập hai đơn vị mới là Vụ Tổng hợp đối
ngoại và Vụ Tổng hợp đối nội. Thực tiễn cho thấy đây là một chủ trương
hết sức đúng đắn. Một mặt giúp cho Lãnh đạo Bộ có thời gian tập trung
vào các vấn đề lớn hơn của Bộ mà vẫn nắm được diễn biến hàng ngày do có
hai trợ thủ đắc lực là hai Vụ nêu trên. Mặt khác, thông qua hai Vụ này,
như là một nơi thích hợp nhất để lựa chọn, rèn luyện và bồi dưỡng cán bộ
lãnh đạo kế cận của Bộ.
Công việc thứ tư mà anh Thạch quan tâm thực hiện là công tác đào tạo
cán bộ và xây dựng bồi dưỡng đội ngũ kế cận. Cán bộ là khâu quyết định
nhất trong việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị mà cấp trên giao phó. Do
đó, anh Thạch trăn trở rất nhiều về vấn đề đào tạo đội ngũ cán bộ khi
tiếp nhận quyền lãnh đạo Bộ Ngoại giao. Đội ngũ cán bộ ngoại giao lúc đó
là đội ngũ cán bộ thuộc thế hệ trước, bên cạnh các thế mạnh (như: lập
trường vững vàng, kinh nghiệm thực tiễn, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh
thần trách nhiệm cao...) cũng có những hạn chế nhất định về nghiệp vụ và
ngoại ngữ. Ngoài việc khuyến khích cán bộ học ngoại ngữ, nhất là tiếng
Anh, anh Thạch thấy cần phải cách mạng hóa khâu đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ. Chính trong công việc này, anh Thạch đã có nhiều sáng kiến, đổi mới
nhất.
Một là, về việc đào tạo cán bộ ngoại giao trẻ, anh Thạch đã đề nghị
và được Ban Bí thư, Hội đồng Bộ trưởng, Ban Tổ chức Trung ương và Bộ
Đại học ưu tiên cho Bộ Ngoại giao tuyển chọn những học sinh thi đại học
đỗ điểm cao nhất, có đạo đức tốt và quan điểm chính trị vững vàng vào
học Ngành Ngoại giao ở trường Đại học Ngoại giao trong nước trực thuộc
Bộ Ngoại giao và ở các trường Đại học nước ngoài.
Hai là, đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy của trường Đại học
Ngoại giao. Trước đó giáo trình giảng dạy tại trường được biên soạn chủ
yếu dựa vào tài liệu của Liên Xô và Trung Quốc. Anh Thạch đã chỉ đạo các
giáo viên của trường viết lại giáo trình, trước hết là giáo trình về
lịch sử quan hệ quốc và chính sách đối ngoại của Việt Nam…theo quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta.
Ba là, về công tác lựa chọn, bồi dưỡng và đề bạt cán bộ quản lý
trong Bộ. Thay vì chế độ “sống lâu lên lão làng”, Đồng chí cho thi hành
chế độ “tập sự cấp Vụ”. Theo Quy chế này, các đơn vị trong Bộ lựa chọn
những cán bộ trẻ và có năng lực theo tiêu chí đề ra của Bộ, có tính cả
kết quả học tập chính trị, chuyên môn và bỏ phiếu tín nhiệm ở đơn vị để
Lãnh đạo Bộ xem xét đưa vào danh sách "thực tập cấp Vụ". Thời kỳ đầu Bộ
đã mở lớp "Bồi dưỡng tập sự cấp Vụ" tập trung có thi cử hẳn hoi để lấy
kết quả trình Lãnh đạo Bộ xét duyệt đề bạt cán bộ, về sau khi công tác
bồi dưỡng cán bộ trở thành nhiệm vụ thường xuyên Bộ chủ trương cho cán
bộ được lựa chọn được dự lớp bồi dưỡng viết chuyên đề và tập sự cấp vụ
trong 2 năm tại đơn vị mình công tác. Hết thời hạn tập sự, Lãnh đạo Bộ
căn cứ vào nhận xét và bỏ phiếu của đơn vị chủ quản để quyết định việc
đề bạt. Nếu được đề bạt, sẽ giữ chức Phó Vụ trưởng. Chế độ này đã giúp
Bộ tuyển chọn được một đội ngũ cán bộ quản lý cấp vụ trẻ dưới 40 tuổi,
có năng lực, trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ, và có tư
cách đạo đức, năng nổ trong công tác. Cách lựa chọn và đào tạo cán bộ
quản lý này đã thành nếp của Bộ Ngoại giao. Rất lý thú là nhiều Bộ,
ngành khác cũng học tập và vận dụng cách làm này của Bộ Ngoại giao.
Bốn là, sau thành công của việc bồi dưỡng cán bộ cấp vụ
trẻ, anh Thạch đã chỉ đạo cho thi hành chế độ "Tập sự cấp Bộ" nhằm xây
dựng đội ngũ lãnh đạo Bộ kế cận, vừa trẻ, có năng lực, vừa được đào tạo
một cách cơ bản. Số cán bộ tập sự cấp Bộ được lựa chọn từ các Vụ trưởng
của Bộ, thông qua việc bỏ phiếu tín nhiệm của tất cả cán bộ cấp Vụ,
Phòng và chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính trong Bộ, sau đó trình
Lãnh đạo Bộ xem xét. Các cán bộ tập sự cấp Bộ, về đối ngoại được mang
chức danh Trợ lý Bộ trưởng và điều hành công việc của Bộ như một Thứ
trưởng. Sau 2 năm tập sự sẽ tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm để trình lên
Thủ tướng xem xét đề bạt Thứ trưởng.
Năm là, tổ chức các lớp học tập nâng cao trình độ chuyên môn và
nghiệp vụ cho cán bộ. Theo đó, sau một thời gian công tác nhất định tất
cả cán bộ, bao gồm cả cấp Vụ đều phải tham gia các lớp bồi dưỡng kiến
thức ngoại giao của Bộ. Kết thúc các lớp học này, nếu cán bộ nào không
đạt yêu cầu thì phải học lại và không được xét đi công tác luân chuyển
nước ngoài.
Sáu là, chú trọng học tập nâng cao trình độ ngoại ngữ. Trong thời
gian anh Thạch làm Bộ trưởng, Bộ đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm nâng
cao trình độ ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ, như: Cử đi học ở nước ngoài,
mở lớp học trong nước, quy định biết ngoại ngữ là điều kiện bắt buộc để
tuyển chọn, bồi dưỡng và đề bạt, cũng như xét đi công tác luận chuyển
nước ngoài và khen thưởng đối với cán bộ... Đặc biệt, Anh Thạch đã cho
ban hành Quy chế đi công tác luân chuyển nước ngoài, trong đó quy định
trình độ ngoại ngữ mà mỗi loại cán bộ phải đáp ứng (thông qua các đợt
kiểm tra do trường Đại học Ngoại giao, sau đó là Viện Quan hệ Quốc tế tổ
chức). Nếu không đạt thì không được đi công tác.
Bảy là, anh Thạch luôn luôn nhắc nhở cán bộ ngoại giao phải thường
xuyên tu dưỡng phẩm chất chính trị đạo đức và rèn luyện sức khỏe. Anh
thường nói với mọi người muốn làm tốt công tác trong Ngành mỗi cán bộ,
ngoài phẩm chất chính trị vững vàng ra phải có sức khỏe tốt. Anh rất
quan tâm chỉ đạo Đảng ủy Bộ, Công đoàn, Nữ công chú ý chăm lo sức khỏe
cho anh, chị, em.
Anh Nguyễn Cơ Thạch thôi giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao đã hơn 20
năm, nhưng Bộ máy Bộ Ngoại giao do anh thiết lập đến nay vẫn vận hành
tốt, đã giúp hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ chính trị mà trên giao phó cho
Bộ. Đội ngũ cán bộ của Bộ ngày càng trưởng thành và chuyên nghiệp hơn,
vững vàng về chính trị, kiên định về lập trường, có trình độ về chuyên
môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ, đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi của
nhiệm vụ đặt ra. Nhìn tổng thể có thể nói cán bộ Ngoại giao Việt Nam
ngày nay không thua kém gì cán bộ Ngoại giao các nước. Một phần lớn công
lao này thuộc về cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch với tư cách là
kiến trúc sư của nền Ngoại giao Việt Nam hiện đại ./.
_________________________________________________
[*] Nguyên Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao.