
Hiệp ước Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc được ký năm 1999
Vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc luôn thu hút sự
quan tâm và tranh cãi trong dư luận người Việt trong và ngoài Việt Nam.
Cho đến hôm nay, Hiệp ước Biên giới trên đất liền được hai nước ký năm 1999 vẫn gây ý kiến trái ngược.
Một nhà nghiên cứu về tranh chấp Biển Đông, Dương Danh Huy, mới đây
gửi cho BBC bài viết về chính sách thông tin của Việt Nam liên quan biên
giới lãnh thổ và ranh giới biển. Bài viết đặt ra một số câu hỏi cho
Tiến sĩ Trần Công Trục, cựu trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, sau
khi ông Trục, trên báo Việt Nam, kể lại những năm đàm phán biên giới
với Trung Quốc.
Khi được Lê Quỳnh của BBC liên lạc, ông Trần Công Trục đồng ý trả lời
những "băn khoăn" về cuộc đàm phán biên giới trên bộ và phân định Vịnh
Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Xin giới thiệu với quý vị hai bài viết muốn giải đáp thêm các câu hỏi
về quá trình đàm phán giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa Việt
Nam và Trung Quốc.
Ý kiến của ông Dương Danh Huy
Cho đến nay vẫn có có nhiều ý kiến khác nhau về tính công
bằng của hai hiệp định Việt-Trung về ranh giới trên bộ và về vịnh Bắc Bộ
được ký vào năm 1999 và 2000.
Mới đây, trả lời phỏng vấn trên báo Giáo dục Việt Nam về hai hiệp
định này, TS Trần Công Trục, nguyên trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt
Nam, nói:
“Điều đáng nói là không chỉ dư luận người dân mà ngay cả những người làm công tác nghiên cứu, các nhà khoa học lẫn những nhà quản lý, lãnh đạo vẫn còn nhiều người mơ hồ, lăn tăn về chuyện này. Thậm chí có người suy đoán “chắc là dư luận nói đúng” bởi vì họ nghĩ Việt Nam là nước nhỏ, nước yếu ở cạnh một nước mạnh, nước lớn như TQ thì phải có sự nhượng bộ không thể tránh khi đàm phán tranh chấp biên giới, lãnh thổ.”
Điều TS Trần Công Trục nói đến là do một khuyết điểm cơ bản trong
chính sách của Việt Nam về thông tin liên quan đến biên giới lãnh thổ và
ranh giới biển.
Trấn an?
Nếu Việt Nam công bố minh bạch và đầy đủ thông tin thì đã không có
nhiều người làm công tác nghiên cứu, nhà khoa học, nhà quản lý, lãnh đạo
“mơ hồ, lăn tăn” về các hiệp định lãnh thổ và biển, mà dư luận người
dân cũng đã đỡ xôn xao. Thông tin đó không thể dựa trên việc quan chức
hé ra một phần, không thể được thay thế bằng thông tin hành lang, hay
những lời khẳng định, trấn an. Ngược lại, Việt Nam phải có chính sách
cung cấp cho nhân dân thông tin chính thức, minh bạch và đầy đủ, theo tư
duy 3C, “Công khai, Công luận, Công pháp quốc tế”.

Không thể bác bỏ những suy đoán mà TS Trần Công Trục đề cập đến, hay những suy đoán khác, bằng những lời phủ định “chay”.
Để bác bỏ chúng, cần công bố những thông tin như: trong đàm phán Việt
Nam đã đòi gì, Trung Quốc đã đòi gì, mỗi bên đã đưa ra dẫn chứng và lập
luận gì cho yêu sách của mình, và cuối cùng mỗi bên được gì với lý do
gì. Người quan tâm sẽ dùng những thông tin đó để đánh giá giá trị pháp
lý của chứng cứ của mỗi bên và tính công bằng của thỏa hiệp.
Nếu thay thế những thông tin đó bằng những lời trấn an thì nhân dân
không thể biết có bên nào đã ngang ngược hay không, và bên kia có đã
đành phải chấp nhận hay không; họ chỉ có thể lựa chọn giữa có tin lời
trấn an hay không. Lãnh thổ là của nhân dân cho nên họ phải được hơn như
thế: họ phải được có thông tin về đàm phán lãnh thổ và biển. Các lời
khẳng định, các lời trấn an, tin hành lang và tin đồn là không đáp ứng
đủ quyền được biết của nhân dân.
Nhưng cho tới nay, mặc dù tọa độ của các cột mốc đã được công bố, vẫn
chưa có thông tin đầy đủ và minh bạch về cuộc đàm phán dẫn đến chúng.
Khu vực Núi Đất
Một thí dụ là khu vực Núi Đất, mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn và đánh
chiếm vào tháng 4 năm 1984. Vào tháng 7 năm 1984 Quân đội Nhân dân Việt
Nam đã mở chiến dịch kéo dài nhiều năm, chiến đấu quyết liệt để giành
lại những vùng bị Trung Quốc chiếm đóng. Với xương máu của rất nhiều
người lính, Việt Nam đã giành lại được nhiều phần.
Trên bàn đàm phán, Việt Nam cũng đã giành lại được một số mỏm núi.
Theo thông tin không chính thức từ phía Trung Quốc và phía Việt Nam thì
có một mỏm có vẻ như cả hai bên không chối cãi là của Việt Nam, nhưng
Trung Quốc đã xây nghĩa trang quân đội trên đó và họ chủ trương là khu
vực nghĩa trang là bất khả xâm phạm.

Việt Nam có cuộc chiến biên giới với Trung Quốc tháng Hai 1979
Có việc đó hay không? Nếu có thì vì lý do nào mà Việt Nam đã chấp
nhận? Vì nhân đạo và địa chính trị, hay vì không có đủ chứng cứ pháp lý,
hay lý do nào khác? Tại sao thông tin không được công bố?
Vịnh Bắc Bộ
Một thí dụ khác là ranh giới trong vịnh Bắc Bộ. Ban đầu Việt Nam chủ
trương kéo dài đường phân định trong Hiệp định Pháp-Thanh 1887 để chia
cả lãnh hải 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế bên ngoài 12 hải lý,
nhưng Trung Quốc đã không chấp nhận. Sau đó Việt Nam chủ trương chia
theo luật quốc tế về phân định biển. Theo tài liệu đã công bố của nhân
viên nhà nước có chức năng thì Trung Quốc chủ trương chia đều 50:50,
không cần đến lập luận pháp lý. Cuối cùng hai bên đã thỏa hiệp bằng tỷ
lệ 53:47 nghiêng về Việt Nam.

Theo bản đồ độ phân giải cao thì nhiều điểm trong đường phân định
vùng đặc quyền kinh tế trong vịnh Bắc Bộ nằm gần lãnh thổ Việt Nam hơn
lãnh thổ Trung Quốc. Nổi bật nhất là điểm 17 nằm gần bờ biển Hà Tĩnh hơn
đảo Hải Nam khoảng 50 km, và điểm 14 nằm gần bờ biển Nam Định hơn đảo
Hải Nam khoảng 37 km. Trong khi đó, không có điểm nào nằm gần lãnh thổ
Trung Quốc hơn lãnh thổ Việt Nam. Nếu lấy một đường trung tuyến nào đó
làm chuẩn (có thể có vài đường trung tuyến khác nhau đều tương đối hợp
lý) thì có thể nói là Việt Nam được ít hơn đường trung tuyến ít nhất là
nhiều trăm cây số vuông.
Vì vậy, mặc dù lời phê phán rằng Hiệp Định Pháp-Thanh 1887 đã chia
toàn bộ vịnh Bắc Bộ là lời phê phán không hợp lý, nhưng quan điểm chính
thức của Việt Nam, rằng Hiệp Định vịnh Bắc Bộ 2000 là công bằng, cũng là
quan điểm chưa thuyết phục.
Có thể cho rằng hiệp định đó là đại khái công bằng ở một mức nào đó,
nhưng mức đó có là công bằng đủ hay không thì là điều có thể tranh luận.
Trong tranh luận đó, thể có người cho rằng trước một Trung Quốc vừa
mạnh, vừa tham, bất chấp luật quốc tế, thì việc Việt Nam đạt được mức
công bằng đó là khá rồi, và có thể có người có quan điểm ngược lại.
Cũng có thể có người cho rằng việc được ít hơn đường trung tuyến đó
là giá phải chăng cho việc có một ranh giới ổn định trong vịnh Bắc Bộ,
và có thể có người có quan điểm ngược lại.
Điều quan trọng ở đây là phải có thông tin chính thức và có tranh
luận khoa học, duy lý. Đó cũng là nguyên tắc chung cho việc nhận định về
các hiệp đinh biên giới, ranh giới.
Ý kiến ông Trần Công Trục

Việt - Trung ra Tuyên bố chung về hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên biên giới đất liền ngày 31/12/2008
Trước hết, tôi xin cảm ơn và hoan nghênh sự quan tâm và bày
tỏ một số băn khoăn thắc mắc của học giả Dương Danh Huy sau khi đọc nội
dung trả lời phỏng vấn của tôi đăng trên trang báo Điện tử Giáo dục Việt
Nam gần đây.
Ông Dương Danh Huy là học giả quen biết của độc giả Việt Nam và quốc
tế quan tâm đến lĩnh vực biên giới, lãnh thổ, đặc biệt là vấn đề biển,
đảo, trong đó có tôi. Tôi đã đọc, nghiên cứu khá kỹ những nội dung mà
ông Dương Danh Huy đã phát biểu trên một số phương tiện thông tin truyền
thông và một số công trình nghiên cứu đã đăng tải trên trang mạng điện
tử “Quĩ nghiên cứu Biển Đông”.
Là một công dân Việt Nam luôn tâm huyết với vấn đề biên giới, lãnh thổ,
biển, đảo của Tổ Quốc, hiện nay là một người nghiên cứu độc lập, tôi
tâm đắc và đánh giá cao những công trình nhiên cứu của ông Dương Danh
Huy, tôi cũng chia sẻ với những băn khoăn, trăn trở của ông có liên quan
đến kết quả đàm phán giải quyết vấn đề biên giới trên bộ và phân định
Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian qua.
Đúng là sở dĩ cho đến nay trong dư luận vẫn còn tồn tại những băn
khoăn, thắc mắc, thậm chí vẫn còn nghi hoặc về một số thành quả của quá
trình đàm phán giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ với Trung Quốc, chủ
yếu là do thiếu thông tin hoặc thông tin không rõ ràng, minh bạch, thậm
chí mâu thuẫn nhau, chưa kể tới những thông tin thiếu trung thực, khách
quan xuất phát từ những động cơ khác nhau. Đó là một thực tế ai cũng
nhận ra. Dư luận đòi hỏi được cung cấp thông tin là hoàn toàn chính
đáng, là nhu cầu cần kíp.

Tuy nhiên công bằng mà nói, sở dĩ còn tình trạng này là vì có những
nguyên nhân chủ quan, khách quan mà chúng ta nên bình tĩnh xem xét. Là
người trong cuộc, tôi có thể nói rằng đòi hỏi của công chúng nói trên
mặc dù rất chính đáng, cần thiết, nhưng những người có trách nhiệm không
thể có khả năng đáp ứng ngay, kịp thời được. Bởi vì đây là vấn đề hết
sức hệ trọng, nhạy cảm và rất rất phức tạp, có liên quan đến nhiều lĩnh
vực trong đời sông xã hội. Có những nội dung có thể công khai ngay được,
cũng có những nội dung chưa thề công khai ngay được, nhất là trong thởi
gian đang đàm phán hoạch đinh biên giới và tiến hành phân giới cắm mốc
trên thực địa.
Mọi người đều biết thời gian đàm phán hoạch định và phân giới cắm mốc
kéo dài chí ít là từ năm 1993 cho đến năm 2008, trước đó nữa là thời
gian nghiên cứu chuẩn bị phương án đàm phán, mọi hồ sơ tài liệu đều phải
được bảo quản theo chế độ bảo mật. Từ sau khi hoàn thành về cơ bản phân
giới cắm mốc cho đến nay mới chỉ khoảng 5 năm, lại còn tiếp tục đàm
phán một số nội dung quản lý biên giới, mốc giới, cửa khẩu, sử dụng sông
suối biên giới chung…Với thời gian đó và với khối lượng công việc đó,
có lẽ khó có thể có ai đáp ứng ngay được những đòi hỏi của dư luận. Mặc
dù vậy, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm và có liên quan cũng đã cố
gắng công bố nhiều ấn phẩm khá tốt về lĩnh vực này.
Có thể nói rằng thông tin ngày càng phong phú, rõ ràng, công khai,
minh bạch hơn. Mọi người có thể tìm mua tại các cửa hàng sách hay truy
cập trên các trang mạng những ấn phẩm này. Tôi tin rằng các Cơ quan có
trách nhiệm của Việt Nam sẽ dần dần bổ sung cung cấp đầy đủ mọi thông
tin có liên quan và cần thiết. Thiết nghĩ đó cũng là trọng trách của các
tổ chức, cơ quan, cá nhân có liên quan trước đòi hỏi chính đáng của
công luận. Bởi vì công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn
lãnh thổ quốc gia của các thế hệ người Việt Nam vẫn đang tiếp diễn.
Trở lại nội dung cụ thể mà ông Dương Danh Huy nêu lên, tôi mạn phép
có đôi điều bình luận theo nhận thức và thông tin mà bản thân tôi tự nắm
bắt được:
Tình hình biên giới
Trước hết, có lẽ xin được phép nhắc lại khái quát về tình hình biên giới đất liền Việt Nam-Trung Quốc.
Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc dài khoảng 1.400 km
tiếp giáp giữa 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng,
Lạng Sơn và Quảng Ninh của Việt Nam với tỉnh Vân Nam và khu tự trị dân
tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc. Biên giới này được hoạch định và
phân giới cắm mốc lần đầu tiên trong lịch sử bằng Công ước hoạch đinh
biên giới ngày 20 tháng 6 năm 1887 và Công ước bố sung ngày 20 tháng 6
năm 1895 ký kết giữa Pháp và nhà Thanh (Trung Quốc).

Trong hơn 100 năm kể từ khi Công ước Pháp Thanh được ký kết, biên
giới giữa 2 nước đã trải qua nhiều biến đổi trên thực địa do thời tiết,
do diến đổi địa hình địa vật và do những biến động chính trị, xã hội ở
mỗi nước cũng như trong quan hệ giữa 2 nước, đặc biệt là cuộc chiến
tranh biên giới năm 1979. Vì vậy, đã nẩy sinh những tranh chấp hết sức
phức tạp từ nhận thức khác nhau về hướng đi của biên giới cho đến lịch
sử quản lý thực tế về biên giới…Chẳng hạn, lời văn mô tả và bản đồ có
nơi không đầy đủ, chính xác, rõ ràng; các cột mốc biên giới được cắm từ
cuối thế kỷ XIX không được xác định bằng lưới tọa độ, nhiều mốc bị hư
hỏng, bị mất, xê dịch, nhiều mảnh bản đồ gốc không còn; trên một số khu
vực biên giới xẩy ra sự chuyển dịch dân cư không theo biên giới pháp lý…
Từ tình hình nói trên, nhằm xác định lại chính xác biên giới để quản
lý biên giới lãnh thổ tốt hơn, tránh những tranh chấp phức tạp xẩy ra
làm ảnh hưởng đến quan hệ chính trị giữa hai nước, ảnh hưởng đến môi
trường hòa binh, ổn định, hợp tác và phát triển của mỗi nước…, ngay sau
khi bình thường hóa quan hệ tháng 11 năm 1991, hai bên đã thỏa thuận
tiến hành đàm phán hoạch định biên giới mới thay cho Công ước Pháp -
Thanh 1887, 1895 và tiến hành phân giới cắm mốc tại thực địa dựa trên
nội dung của Hiệp ước hoạch định biên giới mới này. Quá trình đàm phán
đã diễn ra như sau:
- Từ năm 1990, sau khi hai nước khôi phục quan hệ, từ 7-11-1991 đến
10-11-1991 đã ký hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên
vùng biên giới: quản lý biên giới theo tình hình thực tế; thẩm quyền
giải quyết biên giới cấp Chính phủ; giữ mốc biên giới.

- Từ năm 1992, đàm phán lần thứ 4 diễn ra ngày 19-10-1993 ký thoả
thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ
giữa 2 nước; trong thỏa thuận này, hai bên đã nhất trí mở ra 4 diễn đàn
đàm phán về biên giới lãnh thổ (3 cấp chuyên viên và 1 cấp Chinh phủ) và
đặc biệt đã thống nhất được căn cứ pháp lý để đàm phán là: “Hai bên
đồng ý căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới ký giữa Pháp và Trung
Quốc ngày 26-6-1887 và Công ước bổ sung Công ước hoạch định biên giới
20-6-1895, cùng các văn kiện và bản đồ hoạch định, cắm mốc kèm theo đã
được Công ước và Công ước bổ sung nói trên xác nhận hoặc quy định; đối
chiếu xác định lại toàn bộ đường biên giới trên đất liền giữa VN và TQ…”
- Như vậy, mọi tư liệu lịch sử, bản đồ, sách giáo khoa, thậm chí cả
các tài liệu chính thức đã xuất bản trước thời điểm này, nếu không được
xác nhận là một bộ phận của Công ước nói trên, đều không có giá trị dùng
làm căn cứ để xác định hướng đi của đường biên giới trong quá trình đàm
phán lần này.
- Thực hiện Thỏa thuận nói trên, từ tháng 2/1994 đến tháng 12/1999, 2
bên đã họp 6 vòng cấp Chính phủ, 16 vòng nhóm công tác liên hợp, 3 vòng
nhóm soạn thảo Hiệp ước.
- Tại vòng 2 (tháng 7/1994) nhóm công tác đã trao bản đồ chủ trương,
qua đối chiếu có 870km/1360km đường biên giới trùng nhau (67%),
436km/1360km, 289 khu vực không trùng nhau với tổng diện tích 236,1km2
trong đó có 74 khu vực loại A (1,87km2) kỹ thuật vẽ chồng lấn nhau, 51
khu vực loại B (3,062km2) không vẽ tới, 164 khu vực loại C do quan điểm 2
bên khác nhau, trong đó có một số khu vực tranh chấp trên thực địa.
- Đàm phán cấp Chính phủ vòng 6 (25-28 tháng 9 năm 1998) thống nhất
phân khu vực C thành 3 loại: khu vực Công ước đã quy định rõ ràng, khu
vực một bên quản lý quá hoặc vạch quá đường biên giới, khu vực Công ước
không qui định rõ ràng để xử lý theo nguyên tắc đã thỏa thuận, chẳng
hạn:
1. Nguyên tắc các bên trao đổi vô điều kiện cho nhau những vùng đất quản lý quá đường biên giới: “Sau
khi 2 bên đối chiếu xác định lại đường biên giới, phàm những vùng do
bất kỳ bên nào quản lý quá đường biên giới về nguyên tắc cần trả lại cho
bên kia không điều kiện” (Phần II, điểm 3, Thỏa thuận về những
nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa CHXHCN VN và
CHND TH, ngày 19 tháng 10 năm 1993).
- Trong quá trình phân giới cắm mốc, đối với một số khu vực nhạy cảm do có sự tồn tại của dân cư vượt qua biên giới pháp lý mới được hoạch định thì hai bên thỏa thuận thực hiện nguyên tắc giảm tối đa tác động đến khu dân cư, điều chỉnh biên giới sao cho cân bằng về diện tích, giữ nguyên hiện trạng khu dân cư, như nhà cửa, ruộng vườn, nghĩa trang mồ mả…Thực hiện nguyên tắc này, hai bên đã thỏa thuận xử lý thỏa đáng các khu vực có dân cư sinh sống; chẳng hạn, 4 khu vực loại C( 66c, 81c, 127c, 260c) diện tích khoảng 7,2 km2 có dân cư Việt Nam sinh sống quá đường biên giới pháp lý mới về phía Trung Quốc vẫn được giữ nguyên; 5 khu vực loại C với diện tích khoảng 5,7 km2 dân TQ ở quá đường biên giới pháp lý về phía Việt Nam cũng được giữ nguyên hiện trạng.
- Đối với khu vực điểm cao có chốt quân sự, thì các điểm cao nằm trong lãnh thổ của nước nào thì thuộc nước đó. Đối với các điểm cao nằm ngay trên đường biên thì không bên nào được phép đóng quân hay không được xây dựng bất kỳ công trình quân sự nào trên đó, phù hợp với thông lệ quốc tế.
2. Nguyên tắc giải quyết đường biên giới trên sông suối: “Đối với
những đoạn biên giới đi theo sông, suối, hai bên đồng ý sẽ tính đến mọi
tình hình và tham khảo tập quán quốc tế, thông qua thương lượng hữu
nghị để giải quyết” (Phần II, điểm 4, Thỏa thuận về những nguyên
tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới Việt – Trung 19 tháng 10 năm
1993). Tại vòng 5 đàm phán cấp Chính phủ, hai bên đã đạt được thỏa thuận
về nguyên tắc giai quyết đường biên giới trên sông suối giữa 2 nước:
Đối với những đoạn biên giới đã được Công ước 1887, 1895 xác định rõ
ràng thì căn cứ vào các quy định của Công ước để xác định biên giới,
cũng như sự quy thuộc các cồn bãi trên sông suối biên giới; đối với
những đoạn biên giới theo sông suối chưa được Công ước xác định rõ ràng
thì 2 bên sẽ áp dụng nguyên tắc phổ biến của Luật pháp và Tập quán quốc
tế để xác định:
- Trên các đoạn sông, suối tàu thuyền đi lại được đường biên giới sẽ đi theo trung tâm luồng chính tàu thuyền chạy.
- Trên các đoạn sông suối tàu thuyền không đi lại được đường biên giới sẽ đi theo trung tâm cua dòng chảy hoặc dòng chính. Lễ hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền ngày 23/2/2009 tại cửa khẩu Hữu Nghị, tỉnh Lạng Sơn

- Hiệp ước hoạch định biên giới được hai nước Việt Nam, Trung Quốc
chính thức ký ngày 30 tháng 12 năm 1999 và được Quốc hội Việt Nam phê
chuẩn ngày 6 tháng 6 năm 2000 và Quốc hội Trung Quốc phê chuẩn ngày 29
tháng 4 năm 2000. Hiêp ước này mô tả hướng đi của đường biên giới bằng
lời văn và thể hiện bằng đường màu đỏ trên bản đồ tỷ lệ 1/500.000. Dựa
vào Hiệp ước này, từ tháng 12 năm 2001, hai bên đã tiên hành phân giới,
cắm mốc.
- Đến ngày 31 tháng 12 năm 2008, công tác phân giới cắm mốc đã cơ bản
hoàn thành. Kết quả là: Chiều dài biên giới chính xác là 1.449,566 km,
trong đó có 383, 914 km đường biên giới đi theo sông suối; cắm được 1970
cột mốc, trong đó có 1548 cột mốc chính, 422 cột mốc phụ. Toàn bộ công
việc này được tổ chức thực hiện để phân vạch đường biên giới trên thực
địa một cách chính xác, cụ thể, rõ ràng, hoàn chỉnh và dược đánh dấu
bằng một hệ thống mốc quốc giới chính quy, bền vững và đủ về số lượng
trên thực địa. Khi tiến hành phấn giới cắm mốc, hai bên đã vận dụng các
nguyên tắc đã thỏa thuận để xử lý những trường hợp có liên quan đến dân
cư, tài sản, thực tế quản lý, thậm chí cả đến vấn đề tâm linh, tín
ngưỡng…làm sao đảm bảo lợi ích chính đáng cho nhân dân hai bên biên
giới.
Thiết nghĩ với những thông tin này có lẽ cũng có thể giúp giải đáp được phần nào những băn khoăn, thắc mắc nói trên.
Khu vực Núi Đất
Ông Dương Danh Huy đặt vấn đề rằng: “Khu vực Núi Đất, mà Trung
Quốc gọi là Lão Sơn…và theo thông tin không chính thức từ phía Trung
Quốc và phía Việt Nam thì có một mỏm có vẻ như cả hai bên không chối cãi
là của Việt Nam, nhưng Trung Quốc đã xây nghĩa trang quân đội trên đó
và họ chủ trường là khu vực nghĩa trang là bất khả xâm phạm. Có việc đó
hay không? Nếu có thì vì lý do nào mà Việt Nam đã chấp nhận? Vì nhân đạo
và địa chính trị, hay vì không có đủ chứng cứ pháp lý, hay lý do nào
khác? Tại sao thông tin không được công bố?"

Theo thông tin mà tôi được biết thì đúng là có việc Việt Nam đã đồng ý
điều chỉnh chút ít hướng đi của đường biên giới ở khu vực có nghĩa
trang do Trung Quốc đã xây dựng trước đây, mặc dù về pháp lý đường biên
giới mà 2 bên đã xác định là phải đi qua khu vực nghĩa trang này.
Theo tôi, đây là nhân nhượng tự nguyên, thỏa đáng, hợp tình hợp lý.
Bởi vì đây là nhân nhượng vừa mang tính nhân văn, nhân đạo, vừa phù hợp
với nguyên tắc mà hai bên đã thỏa thuận khi xác định đường biên giới đi
qua khu vực có sự tồn tại của dân cư khu vực biên giới…như tôi đã đề cập
ở phần trên.
Vịnh Bắc Bộ
Tôi đã đọc bài viết trên BBC của ông Dương Danh Huy có liên quan đến việc phân định Vịnh Bắc Bộ, “Nhìn lại Hiệp định Vịnh Bắc Bộ sau 10 năm”.
Tôi đánh giá cao những nhận xét của ông Dương Danh Huy về bản chất của “đường biên giới trong Vịnh Bắc Bộ” theo Công ước Pháp Thanh 1887. Nội dung của Công ước là:
“Các đảo phía đông kinh tuyến Paris 105 °43, kinh độ đông, tức là đường bắc-nam đi qua điểm cực đông của đảo Tch'a Kou hay Ouan-chan (Trà Cổ) và làm thành biên giới cũng được cho là của Trung Hoa. Các đảo Go- tho và các đảo khác phía tây kinh tuyến này thuộc về An Nam.
Những người Trung Hoa phạm pháp hoặc bị cáo buộc phạm pháp tìm nơi trú ẩn tại các đảo này, sẽ được, theo quy định của điều 27 của Hiệp định ngày 25 tháng Tư năm 1886, tìm kiếm, bắt giữ và dẫn độ bởi Chính quyền Pháp.”
Theo đánh giá của ông Dương Danh Huy thì Công ước không nói rằng kinh
tuyến 105°43’ Paris, tức là kinh tuyến 108°3’13’’ Greenwich, là ranh
giới phân định biển cho toàn bộ Vịnh Bắc Bộ. Bản đồ đính kèm công ước vẽ
ranh giới dọc kinh tuyến 105°43’ Paris từ cực đông đảo Trà Cổ ra biển
và ngừng cách đảo khoảng 5 hải lý, tức là chỉ cho một phần rất nhỏ của
Vịnh.
Trong chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Trương Tấn Sang năm 2013,
hai nước nói sẽ thăm dò dầu khí chung trong khu vực thỏa thuận ngoài
khơi vịnh Bắc Bộ
Theo tôi, nhận xét của ông Dương Danh Huy là rất chuẩn xác. Bởi vì, “những
điều trên cho thấy, vào năm 1887, trong Vịnh Bắc Bộ, Pháp không cho
rằng họ có chủ quyền hay quyền chủ quyền trong vùng biển cách bờ hơn 12
hải lý. Cũng không có chứng cớ là vào thời điểm đó Trung Quốc cho rằng
họ có chủ quyền hay quyền chủ quyền trong vùng biển này” và “Sẽ
hợp lý hơn nếu cho rằng kinh tuyến 108°3’13’’ trong Công ước chỉ phân
chia đảo và phân chia lãnh hải ven bờ. Như vậy, công ước Pháp-Thanh chưa
phân định phần lớn Vịnh Bắc Bộ, và việc phân định Vịnh Bác Bộ là cần
thiết”.
Chính chúng tôi cũng đã có nhận định như vậy trước khi xây dựng
phương án đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ. Trên tinh thần thật sự khách
quan, cầu thị, chúng tôi cũng đã mạnh dạn đề nghị từ bỏ chủ trương khẳng
định rằng trong vịnh đã có biên giới theo Công ước Pháp Thanh 1887.
Thay vào đó, khi đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ, Việt Nam sẽ theo nguyên
tắc của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982. Đó là nguyên tắc thỏa
thuận, có tính đến mọi hoàn cảnh liên quan, để phân định vịnh Bắc Bộ đảm
bảo tính công bằng mà hai bên có thể chấp nhận được.
Đây thật sự là một bài học quý giá cho những ai đang và sẽ tiếp tục
lãnh trọng trách tham gia đàm phán giải quyết các tranh chấp về biên
giới lãnh thổ, nhất là những tranh chấp trên các vùng biển và hải đảo
trong tình hình hiện nay.
Kết quả là Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung
Quốc đã được ký kết vào ngày 25 tháng 12 năm 2000. Hiệp định này gồm 11
điều với nội dung chủ yếu là xác định rõ tọa độ địa lý của 21 điểm trên
đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế, vùng thềm lục địa
giữa hai nước; quy định hai bên tôn trọng chu quyền, quyền chủ quyền và
quyền tài phán của mỗi bên tại các vùng biển trong vịnh Bắc Bộ; quy định
việc thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên nằm vắt ngang đường phân
định và giải quyết các tranh chấp liên quan đến Hiệp định thông qua đàm
phán thương lượng. Hiệp định có hiệu lực ngày 15 tháng 6 năm 2004.
Đường phân định
Từ tình hình nói trên, tôi cũng xin có bình luận thêm về những băn
khoăn có liên quan đến cách vạch đường phân định đã được thể hiện trên
bản đồ kèm theo Hiệp định này mà ông Dương Danh Huy gọi là “Đường trung tuyến”.
Đúng là “trong phần lớn vùng biển hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ, bờ
biển Việt Nam và Trung Quốc đối diện nhau. Vì vậy, theo luật quốc tế thì
đường trung tuyến có điều chỉnh là nguyên tắc phân định công bằng nhất”.
Tôi không phản bác điều này. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tôi qua
một số bản án cua Tỏa án Trọng tài quốc tế, nhất là vụ xét xử việc phân
định biển Manche giữa Pháp và Anh, các thẩm phán có bình luận rằng trung
tuyến là phương pháp thường được sử dụng trong phân định, nhưng không
phải lúc nào phương pháp này cũng đảm bảo được nguyên tắc công bằng. Bởi
vì, trung tuyến sẽ được xác định tính từ các điểm cơ sở nhất định mà
những điểm này thì hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiện hữu của các vị trị
địa lý được thống nhất lựa chọn nằm dọc theo bờ biển của mỗi bên để tính
toán xác định, thông thường thì phải điều chỉnh do phải tính đến các
hoàn cảnh, điều kiện có liên quan…
Cho nên, có thể nói rằng khó có thể có một “trung tuyến” duy nhất và
đích thực là trung tuyến theo đúng đinh nghĩa khoa học. Trong một khu
vực biển có thể có nhiều trung tuyến có điều chỉnh thích hợp, phụ thuộc
vào phương pháp tính toán xác định của các chuyên gia kỹ thuật.
Và cũng đúng như luật sư Brice Clagett đã nhận xét, việc vạch ranh
giới phải dựa trên cơ sở địa lý, và nguyên tắc tỷ lệ chiều dài bờ biển
chỉ là một thước đo phỏng chừng cho sự công bằng. Tác giả bài này cho
rằng dù tỷ lệ diện tích bằng tỷ lệ chiều dài bờ biển, vẫn có thể tồn tại
những sự bất công mà nguyên tắc tỷ lệ chiều dài bờ biển không phát hiện
được. Vì vậy cần phải xét đến các khía cạnh địa lý, quan trọng nhất là
đường trung tuyến được vạch giữa những điểm nào và ảnh hưởng của các đảo
của Việt Nam và Trung Quốc trong việc vạch và điều chỉnh đường trung
tuyến…
Và vì vậy, kết quả phân định đã cho thấy: Ranh giới trong Vịnh Bắc Bộ
là một đường trung tuyến có điều chỉnh; Đảo Cồn Cỏ được 50% hiệu lực,
đảo Bạch Long Vĩ được khoảng 25% hiệu lực; Tỷ lệ diện tích Việt Nam,
Trung Quốc đạt được, 1.135:1, gần bằng tỷ lệ chiều dài bờ biển Việt Nam,
Trung Quốc, 1.1:1. Cho nên, theo đánh giá của tôi, với tư cách là một
chuyên gia pháp lý, Hiệp định Vịnh Bắc Bộ đã được phân định phù hợp với
nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế, hợp tinh hợp lý vì nó đảm
bảo được sự công bằng mà hai bên chấp nhận được. Đi vào chi tiết kỹ
thuật khi tính toán xác định đường phân định này có lẽ phải nhờ đến các
chuyên gia kỹ thuật bản đồ mới đủ điều kiện để giải đáp chuẩn xác.