Tiêu Dao Bảo Cự,

Thời gian gần đây có
một số “hiện tượng” mang sắc thái chính trị đáng cho mọi người quan tâm:
Huy Đức xuất bản cuốn sách “Bên thắng cuộc” bạch hóa một giai đoạn lịch
sử Việt Nam, Nguyễn Đắc Kiên gay gắt phê phán trực tiếp Tổng bí thư
Đảng Cộng Sản, Nguyễn Phương Uyên tuyên bố quan điểm chính trị chống
đảng trước tòa án, hoạt động của Mạng lưới blogger với Tuyên ngôn 258 tố
cáo với thế giới điều luật phản dân chủ của luật hình sự… và gần đây
nhất là hiện tượng Lê Hiếu Đằng. Những hiện tượng này không phải “đột
xuất” mà có nhưng chính là sự tiếp nối của quá trình đấu tranh dân chủ
hóa đất nước của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là trí thức, qua mấy
thập niên và cũng ghi dấu mở đầu cho một giai đoạn mới, trong đó điều
nổi bật là một số người đã vượt qua nỗi sợ hãi do chế độ độc tài toàn
trị áp đặt nặng nề lên toàn xã hội, nói lên chính kiến của mình ngược
với quan điểm chính thống của chế độ.
Cũng đã gần một tháng
trôi qua từ khi Lê Hiếu Đằng công bố bài viết “Suy nghĩ trong những ngày
nằm bịnh” (17/8/2013), dư luận phản hồi từ nhiều phía đã phân tích, ủng
hộ, phê phán bài viết cũng như tác giả, lại một lần nữa làm lộ rõ các
loại “lập trường chính trị” trước hiện tình đất nước. Tuy nhiên trừ một
số ít bài (như bài viết của Lữ Phương) nêu vấn đề một cách khách quan,
sát thực tiễn, phần lớn các bài viết từ hai cực chính trị, tạm gọi là
“chống cộng triệt để” và “cộng sản bảo thủ” đều không căn cứ vào bản
chất của sự việc mà chỉ áp đặt cách suy luận và diễn dịch theo quan điểm
chính trị của mình. Từ đó gán cho Lê Hiếu Đằng những gì ông không hề có
như cò mồi lừa bịp của đảng, cơ hội chủ nghĩa… hay ngược lại như phản
bội chống đảng, bị thế lực thù địch giật dây…
Thật đơn giản và rõ
ràng khi người ta biết và chịu nhìn vào chính bản thân bài viết, ngay từ
tựa đề “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh”. Trong những ngày nằm bệnh
Lê Hiếu Đằng có thời gian suy nghĩ để “tính sổ” đời mình, một việc quá
tự nhiên và thông thường. Hồi tưởng về thời tuổi trẻ và quá trình cuộc
sống, đấu tranh qua hai chế độ với những kỷ niệm và nhận thức qua mỗi
thời kỳ, ray rứt về hiện tình đất nước dưới sự lãnh đạo của đảng cộng
sản và một vài gợi ý để tìm lối thoát cho đất nước. Với ý tưởng chân
thành, hành văn mộc mạc, đề cập nhiều vấn đề, đây là bài viết của một
người đang nằm bệnh có tính cách tự sự chứ không phải chính luận hay
cương lĩnh. Sao có thể đòi hỏi những gì không thể có qua một bài viết
trong hoàn cảnh này.
Bài viết chứng tỏ tác
giả là một con người có trải nghiệm thực tiễn, suy nghĩ tự do và tinh
thần phản kháng. Mấy năm gần đây, Lê Hiếu Đằng nổi lên như một “nhân vật
phản biện” với các bài viết, các cuộc trả lời phỏng vấn và cả việc tham
gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Đối với những người có hiểu
biết về ông, thực ra Lê Hiếu Đằng đã nổi tiếng phản biện từ nhiều năm
trước trong các hoạt động ở guồng máy chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh
(mà ông đã có nhắc tới vài việc trong bài viết “Suy nghĩ…”) và điều này
cũng là sự tiếp diễn của tinh thần đấu tranh và ý thức dấn thân thời
trai trẻ. Đó không gì khác hơn là lòng yêu nước, tinh thần phản kháng
trước bất công áp bức của rất nhiều thế hệ người Việt Nam.
Bài viết của Lê Hiếu
Đằng có nhiều chi tiết dễ gây tranh luận nhưng điểm nút tạo ra cơn sốt
chính là lời kêu gọi tập thể từ bỏ đảng Cộng sản và thành lập một đảng
mới. Về đảng mới này ông chỉ viết “chẳng hạn như đảng Dân chủ Xã hội”.
Rõ ràng đây chỉ là một gợi ý đầu tiên. Có thể sự gợi ý này bắt nguồn từ
mấy nguyên nhân mà ông và bạn bè hay một số trí thức đã từng suy nghĩ :
Đã từng có hai đảng Dân chủ và Xã hội hoạt động song song với đảng Cộng
sản (cho dù chỉ là đảng cây cảnh); gốc gác của dân chủ xã hội cũng có
chung cội nguồn với chủ nghĩa xã hội của cộng sản nên những đảng viên
Cộng sản dễ chấp nhận; sự ưu việt hiện nay của các chế độ dân chủ xã
hội, đặc biệt ở các quốc gia Bắc Âu đã được thừa nhận và có sức thuyết
phục đối với toàn thế giới. Chỉ là một gợi ý, làm sao có thể đòi hỏi ông
phải nêu cương lĩnh của đảng hay định hướng gì khác trong một bài viết
tự sự khi đang nằm bệnh. Ông cũng không khẳng định đây là đảng mới duy
nhất mà chỉ là thí dụ cho sự đối lập chính trị để kềm chế sự độc tài
toàn trị của đảng Cộng sản.
Dĩ nhiên Lê Hiếu Đằng
không còn ủng hộ đảng Cộng sản khi ông kêu gọi từ bỏ đảng nhưng ông cũng
không kêu gọi lật đổ đảng Cộng sản. Đây không phải là thái độ lập lờ
mà là căn cứ vào thực tiễn, không duy ý chí. Đảng CS còn tồn tại được
bao lâu là điều không ai có thể nói trước chính xác nhưng thực tế là họ
đang cầm quyền với một thế lực hùng mạnh, một bộ máy có mạng lưới rộng
khắp, số đảng viên và những người ủng hộ chiếm thành phần không nhỏ
trong dân số. Dĩ nhiên dù hùng mạnh tới đâu cũng có ngày sụp đổ như lịch
sử của các đế quốc và các chế độ độc tài của loài người đã cho thấy.
Giả thiết ngay cả khi đảng bị lật đổ, nghĩa là không còn nắm chính
quyền, thì số đảng viên và những người ủng hộ họ vẫn còn đó như một thực
thể chính trị. Trong công cuộc dân chủ hóa đất nước, thoát khỏi nạn độc
tài toàn trị, như một ước mơ của đại bộ phận dân tộc, có nhiều cách
nghĩ và phương thức để giải quyến nan đề này. Lê Hiếu Đằng chọn phương
thức hình thành sức mạnh đối lập để chuyển hóa một cách hòa bình chứ
không bạo loạn lật đổ. Không ai có thể đoan quyết phương thức nào là duy
nhất đúng và lựa chọn là quyền của mỗi người. Nếu cùng một mục đích,
các phương thức khác nhau có thể hỗ trợ cho nhau để tạo nên sức mạnh
tổng hợp.
Lê Hiếu Đằng chỉ gợi ý
chứ không phải tuyện bố tự mình đứng ra thành lập đảng mới. Ông chưa
chuẩn bị sẵn sàng cho điều này. Việc thành lập đảng mới chỉ có thể được
thực hiện khi có rất nhiều người tán thành, liên lạc với nhau và cùng
chung tay hành động. Thời gian sẽ trả lời cho điều này. Nếu việc này
được thực hiện, hay sẽ gợi mở cho việc hình thành các tổ chức và hoạt
động khác của xã hội dân sự, đây sẽ là một đóng góp đáng kể vào việc tạo
nên sức mạnh đối lập với chế độ toàn trị.
Trong việc dân chủ hóa
chế độ và dân chủ hóa đất nước, những người cộng sản cấp tiến có thể
đóng một vai trò đáng kể. Tuy nhiên lại có người nói cộng sản không thể
thay đổi, chỉ có thể xóa bỏ. Đây cũng là vấn đề cần thảo luận.
Trước đây khi những
người cộng sản nói về cộng sản, người ta thường trích dẫn các “ông Tây
cộng sản râu dài râu ngắn”. Bây giờ những người chống cộng lại trích dẫn
các ông Tây khác, cộng sản cũng như không cộng sản. Các kiểu trích dẫn
này thực chất cũng không khác mấy với các kiểu “Tử viết” (Khổng tử nói
rằng) thời phong kiến, phần nào mang tính chất nô lệ về tư tưởng. Dĩ
nhiên những tư tưởng lớn đáng cho mọi người suy gẫm nhưng không phải tất
cả đều là chân lý phổ quát. Một tư tưởng cần hiểu trong bối cảnh của nó
và khi áp dụng cần so sánh, đối chiếu với thực tiễn. Từ đó trở lại với
câu hỏi cộng sản có thể thay đổi không?
Cộng sản từ Karl Marx
đến Lenine, Staline, Khrutchov rồi Gorbachov, Eltsine có gì khác biệt và
thay đổi? Cộng sản từ ước mơ thế giới đại đồng đến “chủ nghĩa xét lại
hiện đại” rồi đế quốc cộng sản Nga, đế quốc cộng sản Tàu, chủ nghĩa xã
hội mang mầu sắc Trung Quốc có gì thay đổi? Cộng sản Việt Nam từ kinh tế
tập thể sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có thay đổi
không? Người vạch trần rõ ràng nhất “bản chất phản động” của chủ nghĩa
cộng sản trong tác phẩm “Giai cấp mới” có phải là Milovan Djilas, một
lãnh tụ cộng sản cấp cao, Phó tổng thống nước Nam Tư? Người góp phần
quyết định làm sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới có
phải là hai tay cộng sản gộc Gorbachov và Eltsine? Những công thần cộng
sản kiên định như Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Nguyễn Hộ cuối đời đã khước
từ chủ nghĩa cộng sản, những đảng viên cộng sản nhiệt thành cũ và mới
đã quyết định từ bỏ đảng như Huỳnh Nhật Tấn, Huỳnh Nhật Hải, Phạm Đình
Trọng, Nguyễn Chí Đức có phải đã thay đổi? Đó là nói cộng sản một cách
chung chung chứ đúng ra phải phân tích một cách rạch ròi về lý tưởng
cộng sản, chủ nghĩa cộng sản, chế độ cộng sản, đảng cộng sản, đảng viên
cộng sản ở từng quốc gia, từng thời kỳ mới có thể kết luận cộng sản có
thay đổi hay không.
Sự vật trên đời này
chẳng có gì không thay đổi sao lại khẳng quyết cộng sản không thể thay
đổi trong khi thực tế đã không là như thế. Xóa bỏ được cộng sản là điều
tốt nhưng khi không hoặc chưa xóa bỏ được thì làm cho nó thay đổi hướng
về điều thiện phải chăng là việc cũng nên làm? Đó không phải là thỏa
hiệp với cái ác mà chính là hóa giải cái ác một cách hòa bình.
Vấn đề trung tâm của
đất nước ta là dân chủ hóa, thoát khỏi độc tài toàn trị. Chế độ này do
đảng cộng sản cai trị nhưng thực ra hiện nay chất cộng sản còn rất ít,
chỉ là một bộ máy thống trị hà khắc của những kẻ nắm quyền lực muốn
“muôn năm trường trị” để trục lợi cho cá nhân và phe nhóm. Những người
nắm quyền lực thống trị kiểu này không phải chỉ có cộng sản. Các “lãnh
tụ độc tài” ở các nước Bắc Phi và Trung Đông đã và đang bị lật đổ gần
đây đều từng là anh hùng dân tộc được nhân dân ủng hộ và tôn vinh nhưng
về sau trở thành tội đồ dân tộc. Có người đã nói đại ý khi quyền lực
tuyệt đối, tha hóa cũng tuyệt đối. Và lòng tham của con người là vô đáy,
bất kể cộng sản hay tư bản. Chuyện “lương khủng” (lương một năm của
giám đốc bằng 83 năm của nhân viên bình thường) của mấy công ty nhà nước
ở TP/HCM vừa được phát hiện gợi nhớ đến chuyện các ông trùm ngân hàng
gây ra khủng hoảng kinh tế ở Mỹ mấy năm trước khi ngân hàng phá sản còn
tự thưởng cho mình hàng triệu đô la. Một số công ty tư bản nước ngoài
hối lộ cho quan chức Việt Nam để trúng thầu, các công ty khác trốn thuế,
gây ô nhiễm mội trường để tăng lợi nhuận và một viên chức Tòa Lãnh sự
Mỹ ở Sài Gòn cũng nhận hối lộ hàng triệu đô la để cấp visa lậu vào nước
Mỹ. Chế độ nào cũng có kẻ xấu.
Việc cần làm là xây
dựng một chế độ chính trị pháp trị thực sự có cơ chế hãm để ngăn chặn
lạm dụng và lòng tham cá nhân. Trên thế giới có nhiều mô hình nhưng
không có mô hình nào là tuyệt đối hoàn hảo và còn cần phải phù hợp với
đặc điểm riêng của từng dân tộc, không thể bắt chước một cách máy móc.
Với Việt Nam để tiến đến đó sẽ phải qua những bước nào? Chuyển hóa, diễn
biến hòa bình hay bạo loạn lật đổ? Cách mạng nhung, cách mạng hoa lài
hay diễn biến từ thượng tầng? Có nhiều phương thức nhưng chắc chắn điều
tốt nhất là không hay ít tốn xương máu, không gây nội chiến, không kéo
dài thù hận. Lê Hiếu Đằng chọn điều này nên ông đã đưa ra gợi ý thành
lập đảng mới để đối lập với đảng cộng sản. Dĩ nhiên việc này không phải
là lối thoát duy nhất cho tình hình và chưa biết lúc nào có thể được
thực hiện nhưng đó là một gợi ý tốt và khả thi, ít ra đối với những đảng
viên cộng sản cấp tiến, khi họ có đủ nhiệt tình, dũng cảm và số đông
cần thiết. Gợi ý này cũng có thể “kích hoạt” hình thành các tổ chức xã
hội dân sự để từng bước xây dựng xã hội công dân có khả năng kháng cự
lại những lạm dụng của nhà cầm quyền.
Trong ba bài viết của
Nguyễn Minh Cần nhân chuyện Lê Hiếu Đằng (Chuyện dài ra Đảng và đa
đảng), tác giả có trích câu nói của Viện sĩ Andrei Sakharov khi trả lời
phỏng vấn các phóng viên nước ngoài trong thời kỳ đen tối của phong trào
dissident dưới chế độ toàn trị Liên Xô: “Giới trí thức biết làm gì? Họ
chỉ biết làm một việc là xây dựng lý tưởng, cứ để cho mỗi người làm được
điều gì anh ta có thể làm được”. Suy nghĩ một lúc, ông nói thêm: “Nên
biết rằng những con chuột chũi đào hang ngầm dưới đất có thể làm sụp đổ
những thành trì lịch sử”. Điều này có lẽ thật đúng cho Lê Hiếu Đằng và
những trí thức có tâm huyết với đất nước như ông. Không thể đòi hỏi
nhiều hơn vì chuyện đất nước là trách nhiệm của toàn xã hội, không của
riêng ai.
Biến cố mới nhất (ngày
9/11/2013) là vụ Ông Đặng Ngọc Viết xông vào trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh
Thái Bình dùng súng bắn vào 5 cán bộ Trung tâm Phát triển Quỹ đất, làm
hai người chết, sau đó tự sát. Nguyên nhân là do việc thu hồi đất, giải
tỏa, đền bù không được đáp ứng thỏa đáng. Đây là sự phản kháng quyết
liệt trong bước đường cùng, gióng lên một hồi chuông báo tử cho chính
nạn nhân và cả chính sách thất nhân tâm của nhà cầm quyền. (Trong cùng
thời gian này, hàng ngàn thanh niên nam nữ háo hức mong đợi gặp “Trai
đẹp Ả Rập bị trục xuất” và đã đội mưa hàng giờ liền dưới sân khấu ngoài
trời để chờ xem chàng trai đẹp người mẫu này xuất hiện chừng 10 phút ướm
thử chiếc áo???!!!)
Có lẽ đã đến lúc những
người cộng sản phải nghĩ đến khẩu hiệu “thay đổi hay là chết”. Tuy nhiên
người dân không chỉ trông chờ vào sự thay đổi tự thân của nhà cầm quyền
mà người dân cũng phải “thay đổi hay là chết”. Nếu đại bộ phận nhân dân
cứ thờ ơ, vô cảm hay cúi đầu chấp nhận những bất công áp bức đè lên số
phận mình thì không ai có thể cứu được.
Đà lạt 15/9/2013
T.D.B.C.
Tác giả trực tiếp gửi cho BVN