Nguyễn Văn Thạnh
Bài 4: Vì sao chính quyền VN có thể khống chế được xã hội dân sự

Hình ảnh mô tả sự lũng đoạn của chính quyền mà đứng sau là ĐCS đối với các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam
Có một học giả nghiên cứu về các chế độ toàn trị do độc đảng cộng sản lãnh đạo trên toàn thế giới kết luận rằng “ở các nước toàn trị, không một tổ chức dân sự nào có thể hoạt công khai mà không do người cộng sản lập lên hoặc đứng phía sau điều khiển”.
Đối chiếu với thực tế xã hội Việt Nam, chúng ta thấy đúng như vậy. Từ
các tổ chức xã hội dân sự to lớn như: mặt trận tổ quốc, đoàn thanh
niên, hội liên hợp phụ nữ, hội nông dân, công đoàn, đến các nhóm hạng
trung như: hội doanh nhân, liên hiệp hội khoa học kỹ thuật, hội luật
gia, hội nhà báo,… đến ti tỉ các hội đoàn cóc ké như: hội chữ thập đỏ,
hội từ thiện các tỉnh thành, hội văn thơ,…tất tần tật đều do bàn tay đạo
diễn của chính quyền. Mà chính quyền thì chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của
ĐCS. Tức ĐCS nắm trọn trong tay chính quyền và các tổ chức xã hội dân
sự. ĐCS vô địch và không có đối thủ dù nó đã quá già nua là vì lẽ đó.
Câu hỏi đặt ra là vì sao có hiện tượng như vậy? Chúng ta thử kiến giải hiện tượng trên ở các góc nhìn sau:
Kiểm soát là nhu cầu sinh tồn của chính quyền CS:
Trong xã hội dân chủ, chính quyền được xây nên từ sự đồng thuận lớn
nhất của người dân và các nhóm xã hội dân sự. Cứ 4-6 năm các chính phủ
được lập nên thông qua phiếu bầu của dân chúng. Do vậy chính quyền không
thuộc độc quyền của đảng phái nào và các đảng phái bị thất cử thì cũng
không lo sợ bị lật đổ và bị chiếm mất chính quyền. Đơn giản là họ luôn
có cơ hội nắm chính quyền trong đợt bầu cử tiếp theo, miễn phương án
quản trị quốc gia của họ được đông đảo nhân dân chấp nhận.
Trong một xã hội có thiết chế như vậy thì không một tổ chức nào có
thể nhân danh điều nào đó để đứng trên các tổ chức còn lại. Các nhóm xã
hội dân sự mọc lên như nấm sau mưa để thúc đẩy các quyền lợi mà những
hội viên của nhóm quan tâm. Chính quyền chỉ lo công việc chung là lập
phá, hành pháp và tư pháp. Đảng cầm quyền chỉ có quyền trong phạm vi của
chính quyền tức là công việc chung, họ không thể và không có quyền tham
gia khống chế, giật dây ở các nhóm lợi ích khác. Điều họ có thể làm là
thỏa thuận và thỏa hiệp để bảo đảm các chính sách đưa ra cân bằng tương
đối lợi ích cho các nhóm khác nhau.
Ngược lại, trong một xã hội toàn trị, theo chủ nghĩa Mac Lenin thì
ĐCS là Đảng cầm quyền duy nhất, là lực lượng duy nhất lãnh đạo xã hội.
Dưới góc nhìn khoa học: chủ quyền thuộc về nhân dân và nhân dân trao
quyền qua bầu cử thì hành vi này là việc tiếm quyền phi pháp. Cái gì
chiếm lấy phi pháp thì phải giữ chặt lấy trong thái độ nơm nớp sợ người
khác cướp mất. Đây chính là nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân có tính
nguyên lý cho ta biết vì sao người cộng sản cần nắm lấy hầu hết, bao
trọn các tổ chức từ chính quyền đến các tổ chức xã hội dân sự từ to, nhỏ
đến cóc ké. Họ luôn cản trở (bằng những điều luật cấm hoặc bằng một
rừng luật pháp đầy chồng chéo), canh chừng và khi cần có thể hủy diệt
những tổ chức xã hội dân sự nào mà họ thấy ảnh hưởng đến họ.
Người dân chưa trưởng thành về mặt xã hội dân sự
Ngoài chuyện bị chính quyền khống chế, chi phối như trên, một nguyên
nhân rất lớn đưa đến sự yếu ớt của xã hội dân sự ở Việt Nam là người dân
chưa trưởng thành về mặt xã hội dân sự.
Một xã hội cũng như một con người, khi nào con người ta “trưởng
thành” - ý thức hết vai trò trách nhiệm, có tri thức hiểu biết cuộc đời -
thì con người đó có sức mạnh, có tự do. Một xã hội dân sự chỉ mạnh khi
các công dân của nó phải là “người trưởng thành”.
Người Mỹ luôn luôn tự kết đoàn làm lấy mọi việc của họ trước khi nghĩ
đến nhờ đỡ chính quyền. Người dân Mỹ luôn luôn nghi ngờ và cảnh giác
với người cầm quyền, họ luôn xây dựng một xã hội với quyền hạn nhà nước
là tối thiểu.
Người dân Việt Nam chúng ta luôn trông chờ vào chính quyền làm điều
gì đó giúp đỡ họ. Tôi thấy tâm lý trông chờ ỷ lại là một rào cản rất lớn
cho sự phát triển của xã hội dân sự. Người dân không biết rằng để chính
quyền làm thì mãi mãi họ mất tự do. Họ chỉ là những “đứa trẻ” được
“người lớn” là chính quyền cho ăn. Họ có thể bị bỏ đói bất kỳ lúc nào.
Người dân chưa ý thức được trách nhiệm cùng nhau xây dựng tổ chức xã
hội dân sự, thúc đẩy lợi ích chung là cứu cánh lâu dài, trông chờ vào
chính quyền chỉ biến người dân trở nên phụ thuộc, tương lai vô cùng bấp
bênh.
Khi có vấn đề, người Mỹ sẽ kết đoàn, lập hội nhóm, đề ra kế hoạch, cử
người lãnh đạo để giải quyết vấn đề chung còn người Việt Nam theo tôi
quan sát sẽ theo chủ nghĩa luồn lách, tức là làm cách nào giải quyết
được việc cá nhân mình. Điều này tôi cảm nhận rõ nét trong quá trình
hoạt động cho CLB BN máu khó đông Tp Đà Nẵng. Tham gia thúc đẩy CLB tôi
rất ít người giàu có, nhà có điều kiện vì họ luôn có cách và có nguồn
lực để đạt được mục đích của mình bằng con đường riêng. Khi thành quả do
nhóm nhỏ nai lưng ra chiến đấu đạt được thì nhóm có điều kiện cũng
hưởng lợi, nhiều khi còn nhiều hơn. Tôi cảm nhận sự bất công vô cùng
trong các sân chơi xã hội dân sự ở Việt Nam.
Nền kinh tế tư nhân kém phát triển là gốc rễ làm cho xã hội dân sự kém phát triển:
Tôi tin vào câu châm ngôn, “con người ta mạnh vì gạo, bạo vì tiền”.
Trong một nền kinh tế mà nhà nước tiêu đến trên 50% dòng tiền và doanh
nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo thì không bao giờ có xã hội dân sự
ra hồn. Không có động lực lợi ích, không chiến đấu vì lợi ích thì xã hội
dân sự như cái vỏ rỗng ruột mà thôi.
Đó là tôi chưa nói, trong một nền kinh tế quốc doanh chiếm chủ đạo
thì nền kinh tế đó tất yếu sẽ ốm yếu, òi ộp, dân sẽ đói nghèo. Một
phường đói nghèo, khố rách áo ôm thì gặp nhau cũng chỉ là bàn cho vui
rồi để đó. Không việc gì mà không cần đến tiền, trong xã hội đói nghèo
thì xã hội dân sự sẽ không thể phát triển.