Nguyễn Hoài Vân
Theo blog Nguyễn Hoài Vân
Nếu Dân Chủ có thể được những người Duy Linh, Duy Lý,
Duy Vật, Duy Tâm, Xã Hội, Marxiste, những người làng nhàng Duy đủ thứ,
hay chẳng Duy gì cả … công nhận là một quyền phổ quát, thì vấn đề còn
lại chính là thực hiện Dân Chủ cách nào để tránh cho những người kể trên
phải đập nhau bưu đầu sứt trán vì một điều mà họ cùng tôn trọng, cùng
quyết tâm bảo vệ?

Thế kỷ 20 đã nhìn thấy sự thắng thế của khoa học duy lý
trên niềm tin tôn giáo, và sự ngự trị gần như toàn diện của chủ thuyết
Mác trên trường tư tưởng. Rồi, vào cuối thế kỷ, sau những dò dẫm của các
thập niên 60 và 70, một khuynh hướng tâm linh mạnh mẽ lại nổi lên,
khiến có nhà tư tưởng đã phải cho rằng: "thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của tôn
giáo…". Đến lượt chủ thuyết Marx phải trải qua một giai đoạn khủng hoảng
trầm trọng, do ảnh hưởng của sự phá sản của các nhà nước kế thừa mô
hình Staliniste. Tuy nhiên, vì những khó khăn của nền kinh tế tư bản
không đưa nổi một phần lớn nhân loại ra khỏi nghèo đói, và ngay tại một
số nước giàu mạnh, không giải quyết nổi nạn thất nghiệp, đã khiến cho
(bên cạnh khuynh hướng Xã Hội) chủ thuyết Marx lại có những dấu hiệu
phục hoạt, trong một hình thái xa lánh những sai lầm tệ hại của mô hình
Staliniste và hoàn toàn gắn bó với trào lưu DÂN CHỦ.
Thật vậy, giữa những thăng trầm của thế kỷ 20, có một
trào lưu đã không ngừng được củng cố và lớn mạnh, đó là trào lưu DÂN
CHỦ. Ngoại trừ những kẻ chủ trương Dân Tộc Chủ Nghĩa Cực Đoan, tất cả
các đảng phái, chính quyền, trong thế kỷ 20, đều nhân danh Dân Chủ, mặc
dù có khi phản lại Dân Chủ. Dân Chủ có thể được coi như yếu tố thường
định của tư tưởng chính trị trong thế kỷ 20.
Vấn đề đặt ra là: tương quan giữa Dân Chủ và các luồng tư
tưởng lớn khác trong thế kỷ này ra sao? Người Duy Vật, Duy Lý, người
Mác Xít, "người tôn giáo", Duy Linh, quan niệm dân chủ như thế nào trước
thềm thế kỷ 21? Và các xã hội loài người ở thế kỷ 21, trong đó có xã
hội Việt Nam, sẽ biến thái ra sao trước những quan niệm về Dân Chủ này?
DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ
Người ta thường đặt tư tưởng Dân Chủ trong một tiến trình
khởi phát từ thời Cổ Hy Lạp, truyền đến ngày nay, sau một thời gian dài
bị phong kiến và thần quyền lấn áp. Có phải vậy không? Theo tôi, nhận
định này không hoàn toàn đúng.
Nền Dân Chủ Cổ Hy Lạp và Cổ La Mã không dựa trên cùng một
nền tảng như nền Dân Chủ hiện đại. Tại các đô thị cổ xưa, Dân Chủ là
đặc quyền của một số người, bên cạnh những thành phần khác, điển hình là
người nô lệ. Tức là: anh được hưởng quyền Dân Chủ vì anh thuộc về một
thành phần nào đó, do ở thế ưu thắng của thành phần này trong xã hội,
như một thứ phần thưởng tập thể. Nói đến phần thưởng là nói đến sự xứng
đáng. Người ta đặt giả thuyết là anh xứng đáng được hưởng Dân Chủ. Nền
Dân Chủ cổ xưa hoàn toàn không có tính phổ quát.
Ngược lại, nền Dân Chủ hiện đại gắn liền với khái niệm
phổ quát về quyền Con Người. Dân Chủ là một QUYỀN, mọi Con Người đều có
quyền đó. Không có vấn đề xứng đáng, không có khái niệm ưu thắng, Dân
Chủ không phải là một phần thưởng, anh có quyền Dân Chủ vì anh là một
Con Người, thế thôi.
Đây chính là một quan điểm hoàn toàn cách mạng trong tư
tưởng Dân Chủ của thời hiện đại. Quan niệm đạo đức thông thường mà cha
mẹ ông bà chúng ta thường dạy bảo là: ai xứng đáng, tốt lành, có công
lao thì được tưởng thưởng, được hưởng thụ những quyền lợi tương xứng với
giá trị của ngưới ấy. Trong quan niệm Dân Chủ hiện đại thì anh chẳng
cần có công trạng chi với xã hội, thậm chí chẳng cần là người tốt, anh
vẫn có quyền được hưởng Dân Chủ như thường. Khi người ta đổ quân vào
giúp người Kossovo, không ai dặt vấn đề những người này có xứng đáng hay
không, có tốt lành hay không, mà chỉ đặt vấn đề quyền làm người của họ,
gắn liền với những quyền Tự Do Dân Chủ.
Quan điểm một quyền phổ quát, không màng đến giá trị tốt
xấu của cá nhân được hưởng quyền này, đặt ra một vấn đề phải giải quyết:
dựa trên căn bản nào mà chúng ta quả quyết được sự hiện hữu của quyền
ấy? Vấn đề trở nên gai góc khi sự quả quyết trên bắt buộc chúng ta đem
một phần đáng kể năng lực và tài nguyên ra để bảo vệ cho nó, và càng gai
góc hơn nữa khi nó đòi hỏi chúng ta phải hy sinh mạng sống của mình hay
của con em mình để cứu vãn nó, khi nó bị đe dọa. Một suy tư thuần lý có
thể đi đến được kết luận này hay không? Có đủ để bắt anh phải lên đường
đem sinh mang của mình ra mà chiến đấu cho quyền được hưởng Dân Chủ của
những con người mà anh không biết là tốt hay xấu, xứng đáng hay tồi
bại, không? Hay phải cần đến một khái niệm siêu hình nào đó?
DÂN CHỦ VÀ TÔN GIÁO
Nói đến một quan niệm siêu hình, người ta nghĩ ngay tới
tôn giáo. Và quên rằng các tư tưởng gia về dân chủ, từ Hobbes, Locke đến
Montesquieu và Rousseau, đều coi tôn giáo, đặc biệt là Giáo Hội Công
Giáo, như trở lực chính yếu của dân chủ. Đặt sang một bên những vấn đề
quyền lợi thế tục, khiến cho một số giáo quyền trước đây không muốn ủng
hộ Dân Chủ, chúng ta có thể nghĩ được rằng trở ngại chính cho Dân Chủ
nơi Giáo Hội Công Giáo nằm ở chỗ: trong bản chất Giáo Hội này là một tôn
giáo mặc khải. Tức là có người nào đó được đón nhận Sự Thật từ chính
Thiên Chúa truyền cho, và từ đó nói chuyện với mọi người khác nhân danh
Thiên Chúa. Như thế tức là: một người nói, mọi người khác chỉ có quyền
nghe và tuân phục. Anh làm sao cãi lại được một Chân Lý đến trực tiếp từ
Thiên Chúa? Ngoại trừ trường hợp anh là "con cái của ma quỷ" ! Chẳng
cần lý luận sâu xa, cũng thấy được rằng cây dân chủ rất khó mà bén rễ
được một cách chắc chắn trên nền tảng này. Với thời gian, vì lý do tương
quan lực lượng ngày càng bất lợi cho Công Giáo, người ta tách rời thế
quyền với thần quyền, và đẩy Giáo Hội xa dần sự quản trị xã hội. Ngày
nay, từ xa, Giáo Hội Công Giáo có thể ủng hộ Dân Chủ một cách quả quyết,
như chúng ta thường thấy.
Bên cạnh Công Giáo La Mã, trong hệ thống Ky Tô Giáo chủ
yếu phải kể đến các Giáo Hội Tin Lành. Một điểm khác biệt quan trọng
giữa hai chi phái này là Tin Lành đã biến đổi khái niệm mặc khải để cho
phép mỗi người tự tìm hiểu và giải đoán Thánh Kinh theo lương tâm của
riêng mình. Vì thế mới nảy ra hàng trăm Giáo Hội Tin Lành khác nhau. Có
nhà thần học đã ví các Giáo Hội Tin Lành như một bầy con ngồi trong một
bàn tiệc vắng bóng người cha. Tức là các anh em tụ họp lại đều ai cũng
như ai, không có người "phán bảo" và những kẻ khác phải tuân phục. Tinh
thần này rất thuận lợi cho sự nảy sinh của Dân Chủ. Có thể không lầm lẫn
bao nhiêu khi cho rằng Dân Chủ đã nảy sinh từ tầng lớp trung lưu Tin
Lành (1).
Đối với người Việt Nam chúng ta thì cũng cần khảo sát
tương quan giữa Dân Chủ và Phật Giáo. Trong bản chất thì Phật Giáo là
một Đạo thực nghiệm, chứ không đặt nặng sự mặc khải từ bên ngoài. Phật
"nói", qua kinh điển, nhưng anh không bắt buộc phải tin, mà chỉ được mời
gọi thực nghiệm qua công phu tu tập của chính anh. Đây cũng là một nền
móng tốt cho sự xây dựng Dân Chủ. Vả lại, một số sử gia đã cho rằng Đức
Thích Ca sanh trong một đô thị được quyền tự trị giữa các vương quốc lớn
chung quanh, và sinh hoạt theo thể chế … dân chủ! (2)
Mặc dù Ky Tô Giáo đã có lúc là một trở lực đối với Dân
Chủ, tôi vẫn nghĩ quan niệm hiện đại về Dân Chủ chịu ảnh hưởng rất hiều
nơi sự giảng dạy của Đức Ky Tô và những nhà tư tưởng kế thừa Ngài. Khi
cho rằng mọi người đều làm một với Ngài, và Ngài làm một với Thiên Chúa,
Đức Ky Tô đã cho mọi con người một Thiên Tính. Và mọi con người đều
phải được quý trọng vì Thiên Tính ấy. Quyền Con Người hiển lộ, một cách
phổ quát, một cách linh thiêng, vì gắn liền với Thiên Chúa. Và vì gắn
liền với Thiên Chúa, quyền ấy thoát khỏi sự phán xét của những người
khác ("các anh đừng phán xét", như lời Phúc Âm). Quyền ấy vượt khỏi sự
phân biệt "tốt - xấu" (3).
Quan điểm "Phật tính trong mọi người", hay "Phật là chúng
sinh, chúng sinh là Phật" của Phật Giáo cũng rất gần với tư tưởng trên.
Như thế, với một quan niệm siêu hình về Con Người đến từ
Ky Tô Giáo trên mặt lịch sử, và phù hợp hoàn toàn với tư tưởng Phật Giáo
(cũng như các tôn giáo lớn khác - không bàn đến ở đây), người ta có thể
quả quyết tính phổ quát của quyền Dân Chủ nơi mọi con người.
DÂN CHỦ, THUYẾT DUY VẬT VÀ CHỦ THUYẾT MARX
Bây giờ giả sử anh là người duy lý, duy vật, thậm chí
Marxiste, trong thâm tâm anh phủ nhận mọi lý luận siêu hình kể trên, thế
thì anh quan niệm DÂN CHỦ ra sao? Làm sao hình dung được tính phổ quát
của nó?
Một giải pháp đơn giản là anh không quan niệm Dân Chủ như
một giá trị phổ quát. Đó là trường hợp của những người Staliniste và
của trường phái triết học Althuser với triết lý Phi Nhân. Quý vị này coi
bản chất con người là "sự tổng hợp của những tương quan xã hội" (4),
hay nói cách khác là được tạo thành từ các điều kiện vật chất trong đó
mình sinh sống. Vì những điều kiện vật chất, cũng như những tương quan
xã hội khác biệt tùy theo thời đại, nơi chốn, giai cấp v.v… nên sanh ra
những con người trong bản chất hoàn toàn khác nhau. Thật ra, người ta
quy kết các sự khác biệt vào Lịch Sử, xóa nhòa sự khác biệt trong địa
dư, với giả thuyết rằng: ở mọi nơi, Lịch Sử đều diễn tiến theo cùng một
quy trình, với những giai đoạn được phác họa bởi Marx và Enghels. Tuyên
Ngôn Đảng CS lại cho rằng "Lịch Sử là lịch sử đấu tranh giai cấp", nên
sự khác biệt trong bản chất giữa những con người, chủ yếu là do ở giai
cấp. Như thế, con người ở giai cấp này với giai cấp khác, trong bản
chất, hoàn toàn khác nhau, như những loài sinh vật khác nhau, như con
kiến với con bò vậy. Người ở giai cấp này có quyền giết người ở giai cấp
khác như con bò đạp con kiến, hay như anh có quyền ăn con bò (và đồng
thời đạp con kiến) mà không hề mang lỗi lầm trên phương diện đạo đức.
Khi "đồng chí" Pol Pot, sau khi "dzui" học ở Pháp về, đem lùa tất cả dân
thành thị, không thuộc giai cấp công nông, vào những nơi giết người tập
thể, để kiến tạo một "xã hội mới" chỉ đơn thuần với giai cấp công nông,
thì "đồng chí" này đã áp dụng một cách triệt để thuyết Phi Nhân của
Althuser, và tự đặt mình trong truyền thống Staliniste thuần khiết. Lý
luận này đương nhiên là phủ nhận sự hiện hữu của "Con Người nói chung"
(Phi Nhân) và những giá trị phổ quát liên quan đến khái niệm ấy, như
Nhân Quyền hay Dân Chủ chẳng hạn. Quan điểm của họ về Dân Chủ trở lại
rất gần với quan niệm Dân Chủ của cổ Hy Lạp, tức là gắn liền với một
giai cấp xã hội.
Các nhà tư tưởng Marxiste Nhân Bản cho rằng quan điểm Phi
Nhân nói trên phản lại Sử Quan Duy Vật của Marx. Đành rằng con người là
sản phẩm của những yếu tố vật chất trong môi trường của mình, nhưng con
người không chỉ hình thành từ một giai cấp trong một giai đoạn lịch sử
nhất định. Con người có Sử Tính của nó. Tức là nó cũng được quy định bởi
những gì đã qua, ảnh hưởng trên nó trong hiện tại qua những điều kiện
vật chất. Những gì đã qua là tất cả quá trình hình thành xã hội và giai
cấp trong đó nó đang sống. Ngược giòng thời gian, theo những giả thuyết
của Marx và Enghels, chúng ta gặp những xã hội Tư Bản, Phong Kiến, v.v…
và rốt cuộc là xã hội Cộng Sản Nguyên Thủy, ở thời sơ khai của loài
người, trong đó không có tư hữu, không có hàng hóa, và mọi thành viên
đều "làm việc theo khả năng, hưởng thụ theo nhu cầu". Vậy, mọi con người
đều mang trong bản chất của mình những ảnh hưởng của cái xã hội Cộng
Sản Nguyên Thủy ấy, di truyền qua thời gian. Xa hơn nữa, loài người,
trong quá trình tiến hóa, đến từ loài khỉ, từ loài có vú bốn chân, loài
bò sát, loài cá, v.v… cho đến những vi khuẩn nguyên thủy. Trong bản chất
của anh có những dấu vết của quá trình tiến hóa đó, thí dụ trong y khoa
thường nói đến não bộ "bò sát" (cerveau reptilien) để chỉ một vùng
trong óc của mỗi người chúng ta. Rồi mỗi con người trong sự hình thành
bản thân mình đều bắt buộc phải trải qua những giai đoạn tiến hóa riêng:
từ một tế bào, đến một thai nhi sống trong một bọc nước, rồi một đứa bé
bò bốn chân, v.v… Ý thức của anh có thể cũng được hình thành qua ảnh
hưởng của tiến trình đó, tức là khi anh là một tế bào thì anh có ý thức
của một con vật đơn bào, như một vi khuẩn, đến khi trở thành một thai
nhi sống trong nước ý thức của anh tương tự như ý thức của một con cá,
sau khi sanh, ý thức của anh tương tự như của loài bốn chân, đến khi
biết sử dụng bàn tay, trở thành tương đương với ý thức của khỉ, rồi khi
có tiếng nói mới phát huy ý thức thuần túy của con người. Nhiều nhà
nghiên cứu cũng cho rằng môi trường gia đình trong đó đứa trẻ sinh sống
trước khi đi học chính là một xã hội Cộng Sản Nguyên Thủy, trong đó mọi
thành viên cũng "làm việc theo khả năng, hưởng thụ theo nhu cầu", và mọi
"phương tiện sản xuất" đều của chung. Như thế, đứa bé trước khi đến
trường, sống trong ý thức của những tương quan xã hội Cộng Sản Nguyên
Thủy. Tất cả những ý thức, từ vi khuẩn, đến cá, đến Cộng Sản Nguyên
Thủy, góp phần vào việc hình thành bản chất của mỗi người chúng ta,
không phân biệt giai cấp, địa phương hay thời đại. Tóm lại mọi Con Người
đều có cùng một bản chất, trước khi có những ý thức về giai cấp (hay
địa phương, hay lịch sử). Không thể coi con người ở giai cấp này với
giai cấp khác như thuộc về những "loài" khác nhau. Tóm lại qua một lý
luận duy vật, không cần tìm đến những khái niệm linh thiêng, người ta đi
đến một quan niệm rõ ràng về Con Người Nói Chung, và biện minh được cho
những quyền phổ quát của Con Người, cho Nhân Quyền và Dân Chủ (5).
DÂN CHỦ TRONG THỰC TẾ ÁP DỤNG
Nếu Dân Chủ có thể được những người Duy Linh, Duy Lý, Duy
Vật, Duy Tâm, Xã Hội, Marxiste, những người làng nhàng Duy đủ thứ, hay
chẳng Duy gì cả… công nhận là một quyền phổ quát, thì vấn đề còn lại
chính là thực hiện Dân Chủ cách nào để tránh cho những người kể trên
phải đập nhau bưu đầu sứt trán vì một điều mà họ cùng tôn trọng, cùng
quyết tâm bảo vệ?
Vấn đề không đơn giản. Người Marxixte cho rằng nền Dân
Chủ Tư Sản luôn tạo lợi thế cho người Tư Sản tiếp tục cai trị xã hội.
Tức là nền Dân Chủ Tư Sản không thực sự Dân Chủ. Nền Dân Chủ mà chủ
thuyết Marx đề nghị là một nền Dân Chủ trực tiếp, đặt nền tảng trên
những Ủy Ban Nhân Dân, Ủy Ban Thợ Thuyền, Nông Dân... Loại Dân Chủ này
đưa đến một tình trạng tự quản trị. Người dân, thợ thuyền, nông dân, ở
mỗi đơn vị, tự quản lý đời sống và công việc làm của mình. Nhà nước chỉ
quản lý những lãnh vực người dân chưa quản lý được qua các Ủy Ban kia.
Dần dần, vai trò của các Ủy Ban tự quản tăng lên, và vai trò của Nhà
Nước biến dần đi. Xã hội Marxiste là một xã hội trong đó vai trò của Nhà
Nước, ngay từ giây phút đầu tiên, luôn một ngày một giảm bớt để đến một
lúc nào đó không còn cần thiết nữa (6).
Chúng ta thấy ngay là điều này mâu thuẫn trầm trọng với
thực trạng tại các nước Cộng Sản theo mô hình toàn trị. Tại các nước
này, vai trò của Nhà Nước không bao giờ giảm bớt, mà xen vào áp chế tất
cả các lãnh vực sinh sống của người dân. Các đảng cầm quyền toàn trị
cũng dứt khoát cấm tuyệt việc thành lập các Đảng phái đối lập, với chiêu
bài bảo vệ nền chuyên chính của một giai cấp. Thật ra, những người cầm
quyền ấy chỉ bảo vệ chính họ, ngôi vị và đặc quyền của họ. Trotsky đã
khẳng định: "người ta sẽ không bao giờ thấy trong lịch sử hiện tượng một
đảng độc nhất thay mặt cho một giai cấp độc nhất" (Cuộc cách mạng bị
phản bội). Các nhà tư tưởng Marxiste trong hệ thống này khẳng định nhu
cầu cần đa đảng, kể cả với những đảng phái tư sản, trong tất cả các giai
đoạn xây dựng xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa (7).
Để trả lời chủ trương Dân Chủ trực tiếp và tự quản lý của
các nhà Marxiste chân chính, các lý thuyết gia Tư Sản cho rằng: vẫn
biết Dân Chủ trực tiếp là hình thái Dân Chủ cao nhất, nhưng trên mặt kỹ
thuật, nó không thể áp dụng được. Và, viện dẫn những lý do kỹ thuật, họ
tuyên bố vẫn gắn bó với nền Dân Chủ gián tiếp, theo những phương thức mà
chúng ta đều biết, mặc dù những khuyết điểm của mô thức này, như:
- sự hình thành một giai cấp chính trị gia chuyên nghiệp xa rời những
quan tâm của người dân, và thỏa hiệp với nhau để bảo vệ đặc quyền của
mình
- sự ưu thắng của các thế lực tiền bạc trong việc sử dụng các phương
tiện thông tin đại chúng để hướng dẫn dư luận, ảnh hưởng vào các cuộc
bầu cử
- các người ra ứng cử luôn là những người giàu có, hoặc được những
thế lực tiền bạc đứng sau lưng yểm trợ, đểø sau đó bị ràng buộc với
những quyền lợi của các thế lực này
- giữa những cuộc bầu cử, người dân bị hạn chế quyền tham dự vào việc
quản trị quốc gia, dù cho có những vấn đề xã hội trọng đại
- việc vận động hành lang thể hiện quyền lợi của những nhóm áp lực,
không nhất thiết đáp ứng nhu cầu và quyền lợi của đa số nhân dân
- chính quyền có thể áp dụng những thủ thuật hợp pháp để tự tạo ưu
thế cho mình trong các cuộc bầu cử, như ban hành những biện pháp mỵ dân
trước khi bầu cử, hay giải tán quốc hội vào những thời điểm thuận lợi
(Thatcher, Chirac…), v.v…
- thành phần mỵ dân cơ hội chủ nghĩa có nhiều lợi thế để đạt đến
chính quyền và thao túng sự quản trị quốc gia, đi ngược lại quyền lợi
của người dân (trường hợp Eltsine, Poutine…)
- các đảng lớn thao túng các cuộc bầu cử khiến các ứng cử viên độc
lập hay thuộc các tổ chức nhỏ gần như không thể được bầu, kể cả trong
những cuộc bầu cử địa phương, và thao túng sinh hoạt nghị trường từ cấp
quốc gia đến cấp địa phương, với kỷ luật bầu cử, như ở Pháp, bó buộc các
người dân cử phải bầu theo chỉ thị của đảng.
XÃ HỘI CÔNG DÂN
Những người chủ trương Dân Chủ trực tiếp, nếu không nắm
được chính quyền (trên lý thuyết phải qua một cuộc cách mạng), thì tư
tưởng của họ trong xã hội vẫn có thể đóng một vai trò quan trọng. Đó là
hạn chế những khuyết tật của mô hình Dân Chủ Nghị Trường vừa nói ở trên.
Thí dụ: hoạt động Ngiệp Đoàn hạn chế những tác hại trên đời sống thợ
thuyền, và phần nào giúp thợ thuyền tham gia vào sự quản trị xí nghiệp
của mình, các cuộc bầu cử địa phương cấp nhỏ trong bối cảnh một chính
sách tản quyền có thể hy vọng thoát khỏi sự kềm chế của các đảng phái
lớn đểø thực sự lo đến các vấn đề đặc thù của địa phương, v.v…
Tuy nhiên, quan trọng nhất có lẽ là sự hình thành một Xã
Hội Công Dân, với sự bộc phát của những nhóm người tự nguyện đứng ra
giải quyết một vấn đề xã hội thực tế. Xã Hội Công Dân là tổng hợp của
tất cả những gì không thuộc về chính quyền. Nó đáp ứng với lý tưởng giảm
thiểu vai trò của Nhà Nước, cùng với quan niệm tự quản trị. Đó chính là
Dân Chủ trực tiếp trong lòng một xã hội áp dụng Dân Chủ Nghị Trường. Nó
có thể làm lùi bước quyền hành, hay những thế lực tiền bạc. Có nhiều
dấu hiệu cho thấy Xã Hội Công Dân sẽ phát triển mạnh trong thế kỷ 21.
Tại những nước toàn trị, Xã Hội Công Dân, được hiểu như
một tiền đề của cách mạng, đương nhiên là bị đàn áp khắt khe. Những sinh
hoạt như hiệp hội, nghiệp đoàn, hợp tác xã tư nhân, chương trình phát
triển cộng đồng, chưa thể hình thành được vì sự cấm đoán của chính
quyền. Kẽ hở duy nhất, hữu hiệu nhất, trong khi chờ đợi, chính là: TÔN
GIÁO.
Chính quyền cũng biết vậy!
Nguyễn Hoài Vân
18/12/1999
18/12/1999
Chú Thích
(1) Vì sao trung lưu? Vì nếu nghèo quá anh không thể có những quyết
định độc lập, mà luôn bị sự thiếu thốn nó đè nén, ép buộc anh trong
những sự chọn lựa. Ngược lại nếu giàu quá thì anh dễ bị cám dỗ đem tiền
bạc ra thao túng xã hội … Vì thế một tầng lớp trung lưu mạnh là một
trong những điều kiện để phát triển Dân Chủ, ít ra là trong một xã hội
Tư Sản.
(2) Louis Frédéric - Bouddha en son temps - Ed Félin .
(3) Khi Thánh Phao Lồ nói: các anh là đền thờ của Thánh Thần Thiên
Chúa, ngài không hề bảo: các anh hãy cố gắng ăn hiền ở lành, trở nên
những con người tốt, để trở thành đền thờ của Thánh Thần Thiên Chúa, mà
hàm ý các anh vốn đã là đền thờ của Thánh Thần Thiên Chúa, mặc dù các
anh tốt hay là xấu.
(4) Hiểu sai lạc một câu của Marx trong Luận Cương VI về Feuerbach
(5) Thật ra, giả sử Thiên Chúa tạo dựng nên con người, qua tiến trình
tiến hóa (được Giáo Hội Công Giáo thừa nhận), thì trước giai đoạn đầu
tiên của quá trình tiến hóa, tức giai đoạn siêu vi khuẩn hay ADN, hay
chi đó, thì ý thức của anh là gì? Có phải là chính ý thức của Thiên Chúa
hay không? Vậy phải chăng chính ý thức của Thiên Chúa là khởi điểm của
sự cấu thành bản chất con người?
(6) Lénine toàn tập - Tập 25.
(7) Đọc Vũ Gia Minh: "Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa…." Tủ sách Nghiên Cứu - 1999 - Liên lạc: BP 246 - 75224 Paris cedex 11