Lê Diễn Đức
Cây cổ thụ cuối cùng của thế hệ Hồ Chí Minh đã đổ. Không
phải vì một trận cuồng phong, bão tố, mà vì đã sống mòn mỏi quá lâu,
sang năm thứ 102. Không bất ngờ. Cái bóng hoàng kim phủ rợp một thời của
ông cũng đi theo xuống mồ.
Nhất tướng công thành vạn cốt khô
Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền tên tuổi mình với chiến thắng Điên
Biên Phủ chấn động địa cầu, buộc thực dân Pháp phải ra khỏi Đông Dương,
trở thành bài học quân sự của thế giới.
Những năm 50-75 của thế kỷ trước là một thời rực rỡ của một danh
tướng không thông qua trường lớp quân sự nào, từ một trí thức bình dân
trở thành đại tướng. Ông là biểu tượng của chủ nghĩa dân tộc, bất khuất
chống ngoại xâm, với kẻ thù mạnh hơn nhiều lần vẫn quyết tâm "chiến
thắng bằng mọi giá".
Học giả, chính khách nước ngoài đã có những đánh giá tích cực về ông, nhưng bên cạnh cũng có những phân tích khác.
"Võ Nguyên Giáp, vị tướng tự đào tạo tài ba, người đã đánh đuổi quân
Pháp ra khỏi Việt Nam, giải phóng nước này khỏi chế độ thực dân và sau
đó khiến người Mỹ phải từ bỏ nỗ lực cứu vãn Việt Nam khỏi chủ nghĩa cộng
sản, đã qua đời. Ở tuổi 102, ông là người vệ binh cách mạng cuối cùng
thuộc thế hệ cũ của Việt Nam".
Chia buồn trước sự ra đi của tướng Giáp, ngày 5/10, Ngoại
trưởng Pháp Laurent Fabius ca ngợi ông là "một người yêu nước vĩ
đại", "một người lính vĩ đại" và "một con người phi thường"
trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.
Tờ New York Times
mô tả ông là "một người rất lôi cuốn và hoạt bát, một nhà quân sự uyên
bác và một người theo chủ nghĩa dân tộc quyết liệt. Ông có thể dùng sức
hút của bản thân để lên tinh thần cho quân sĩ, làm bùng cháy trong họ sự
sẵn sàng cống hiến cho đất nước. Những người hâm mộ ông đặt ông ngang
hàng với MacArthur, Rommel và những chỉ huy quân sự vĩ đại khác của thế
kỷ 20".
Edward Miller, Phó Giáo sư, khoa Lịch sử, Damourth Collage, Hoa Kỳ:
"Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ lâu được ca ngợi ở Việt Nam và cả trên
thế giới như thiên tài quân sự. Không thể phủ nhận các thành tích chiến
trường của ông thật phi thường. Ông đóng vai trò chủ chốt khi Việt Minh
giành quyền lực hồi Cách mạng tháng Tám 1945. Đó là cuộc cách mạng cộng
sản thành công thứ hai trong lịch sử, sau Cách mạng Nga 1917".
"Bên cạnh đó, thắng lợi của ông Giáp ở trận Điện Biên Phủ năm 1954
là sự kiện bước ngoặt không chỉ trong lịch sử Việt Nam hiện đại mà cả
trong lịch sử phi thực dân hóa của các nước miền nam (chỉ châu Phi, châu
Á và Mỹ Latin)".
Trong khi đó, Jay Elwes trong bài "Võ Nguyên Giáp" trên Prospect Magazine, Anh quốc:
"Giáp là một chiến lược gia quân sự tự học tài năng bao la và nhà
một lãnh đạo, người đã giành chiến thắng và giải pháp chính trị vào năm
1954, tạo các tình huống dẫn đến cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ 1965-1975.
Như vậy, ông là trung tâm của cuộc xung đột mạnh nhất, gây nên tổn hại
và tranh cãi của Chiến tranh Lạnh.
Ông cũng là một nhà tư tưởng tàn bạo, người đã nướng một số lượng
lính rất lớn trong việc áp dụng chiến thuuật biển người hoang phí. Cuộc
sống của tướng Giáp được làm nên bởi cuộc cách mạng, chiến tranh và sự
mất mát và đau khổ gần như không thể tưởng tượng. Nhưng ông cũng là
người chiến thắng".
"Võ Nguyên Giáp là một bậc thầy về hậu cần, nhưng danh tiếng của ông
thì còn bắt nguồn từ nhiều thứ khác. Những chiến công mà ông giành được
là nhờ vào một chiến lược kiên trì mà ông và Hồ Chí Minh tin chắc là sẽ
thành công – một quyết tâm sắt đá là chấp nhận tổn thất khổng lồ và sự
tàn phá gần như toàn bộ đất nước để đánh bại mọi kẻ thù, bất kể chúng
hùng mạnh đến đâu. “Các bạn giết 10 người của chúng tôi thì chúng tôi
cũng giết một người của phía bạn”, ông nói, “nhưng cuối cùng, các bạn sẽ
mệt mỏi với điều đó trước chúng tôi”.
Cũng Phó Giáo sư, Khoa lịch sử, Hoa Kỳ, Edward Miller:
"Chúng ta nên nhớ rằng Tướng Giáp, giống như nhiều viên tướng vĩ đại
trước ông, đã mua các chiến thắng với giá khổng lồ, và cũng suýt thất
bại. Nghiên cứu gần đây cho thấy lực lượng Việt Minh chịu thương vong to
lớn ở Điện Biên Phủ và suýt nữa bị đánh bại tại đó, giống như trong
trận tấn công thất bại mà ông Giáp tiến hành ở đồng bằng Sông Hồng năm
1951".
Tiến sĩ François Guillemot, sử gia Pháp:
"Võ Nguyên Giáp với nhiều người Việt Nam khác, những người chống
cộng và lưu vong, xuất hiện như kẻ chủ mưu của một cuộc chiến nhắm vào
các đảng phái quốc gia dân tộc cạnh tranh với Việt Minh trong giai đoạn
1945-1946".
"Chiến lược quân sự của ông vốn tiêu tốn nhiều sinh mạng phụ nữ (cần
nhấn mạnh điều này) và nam giới, ngày nay vẫn được thế hệ trẻ đặt dấu
hỏi. Bởi vì Điện Biên Phủ, bất chấp chiến tích, là một cuộc xay thịt với
cả hai bên và người Việt Nam đã trả một giá đắt cho trận chiến này...".
"Chiến lược của ông không phải là "chiến lược hòa bình" như ông đã
nói với Dominique Bari, một nhà báo của tờ Nhân Đạo (l’Humanité, tờ báo
của Đảng Cộng sản Pháp) vào năm 2004, mà chiến lược của ông là để giành
chiến thắng trong dài hạn cùng với một cái giá về hy sinh nhân mạng cao
không gì có thể so sánh được".
Tướng William C.Westmoreland cho rằng, ông Giáp thành công vì "ông
ta sẵn sàng chịu tổn thất lớn để theo đuổi chiến thắng". "Bất kỳ một
tổng tư lệnh nào của Hoa Kỳ mà chịu tổn thất lớn như Tướng Giáp đều sẽ
bị cách chức ngay tức khắc", Westmoreland nói.
Dù thế nào đi nữa, bất luận có nhờ trợ giúp của các cố vấn Trung
Quốc, Nga, hay quyết định tập thể của lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam
(ĐCSVN) hay không, là Tổng tư lệnh tối cao, Võ Nguyên Giáp đã đạt kết
quả cuối cùng trong cuộc chiến. Danh vọng của ông cao hơn cả núi xương
máu của dân tộc. Cuộc chiến chống Mỹ 1954-1975 mà thực chất là cuộc đỏ
hoá miền Nam, kết thúc vào ngày 30/04/1975 với cái chết của khoảng 3,5
triệu lính và dân thường, cùng với nửa triệu người khác đã bỏ mình trên
biển từ hàng triệu người chạy trốn khỏi chế độ mà ông đã góp phần tạo
dựng.
Một thời nhẫn nhục
Năm 1967, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ muốn dùng “hiểm họa xét lại” để hạ bệ tướng Võ Nguyên Giáp.
Trong tiểu luận “Lê Duẩn, the American War, and the Creation of an
Independent Vietnamese State” Judith Stowe nói rằng "do quá nguy hiểm
nếu công kích cá nhân ông Giáp, nên ông Lê Duẩn nhắm đến đội ngũ ủng hộ
tướng Giáp, đặc biệt những người thân cận và trung thành nhất trong hàng
ngũ cấp cao của đảng và chính phủ".
Năm 1982 ra ông Giáp bị ra khỏi Bộ Chính Trị, năm 1983 được phân
công làm Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Dân số và Sinh đẻ có kế hoạch và về
hưu năm 1991.
Từ 1983, suốt 30 năm cuối cuộc đời, tướng Giáp sống cam phận, bị gạt ra ngoài mọi quyết định quan trọng nhất của ĐCSVN.
Thực ra ông hoàn toàn có thể khước từ chức vụ "coi đẻ" để giữ nhân
cách và khí phách. Nhưng không, ông vẫn muốn tồn tại, được yên thân
trong những mưu mô và thủ đoạn tranh giành ảnh hưởng quyền lực của đồng
chí mình. Ông im lặng trước sự bất công đối với các chiến hữu, xa lánh
họ, dù họ rất cần đến tiếng nói bảo vệ của ông khi hoạn nạn.
Bởi vì ông biết rằng, bất kỳ sự kháng cự nào cũng sẽ bị phản công
kịch liệt bởi các đối thủ chính trị, và vòng nguyệt quế của ông sẽ bị
tước bỏ. Thân phận ông sẽ thảm hại chằng kém gì các chiến hữu bị đày đoạ
trong lao tù mà không biết nguyên do, không án, thời gian vô định. Chí
ít ông cũng sẽ như trung tướng Trần Độ, một người bị khai trừ ra khỏi
đảng và trong lễ tang bị gỡ đi chữ "vô cùng thương tiếc" trên các vòng
hoa viếng. Ông đã lựa chọn cách sống nhẫn nhục đến mức hèn nhát.
Tiến sĩ François Guillemot đã viết:
"Ông cúi mình trước tất cả các thử thách của đảng để không bao giờ
phản bội Hồ Chí Minh. Đó là đường lối hành xử của ông cho đến hết đời,
gần như một nỗi ám ảnh. Sống đúng với giá trị và cam kết của mình".
Vào lúc cuối đời, tướng Giáp có trăn trở với những sự kiện xảy ra
trên đất nước, ông ủng hộ kinh tế thị trường theo định hướng chủ nghĩa
xã hội.
Ông tỏ ra mềm mỏng hơn sau khi chấm dứt cuộc chiến và Việt Nam thống
nhất, ủng hộ cải cách kinh tế và bắt tay với Hoa Kỳ, đồng thời công
khai cảnh báo về ảnh hưởng lan rộng của Trung Quốc và cái giá phải trả
về môi trường cho công nghiệp hoá ở Việt Nam. Vì thế ông đã ba lần viết
thư gửi quốc hội đề nghị không khai thác bauxite Tây Nguyên. Ông cũng
không tán thành việc mở rộng thành phố Hà Nội ra Hà Tây và phá bỏ Hội
trường Ba Đình lịch sử. Tuy nhiên những đề nghị của ông đã bị bỏ ngoài
tai. Chẳng ai nghe ông. Người ta vẫn làm khác ý ông để trục lợi.
Bi kịch đất nước
Phóng viên Hoa Kỳ Tim Karr nói:
"Thật đáng tiếc là ông đã không sử dụng uy tín vững như bàn thạch
trong lịch sử dân tộc để đôi khi chỉ trích hay đi chệch khỏi đường lối
của đảng. Có vẻ như một phần đáng kể của lịch sử hiện đại Việt Nam đã
mất đi cùng với sự ra đi trong yên lặng của ông".
Ban lễ tang với những lãnh đạo đảng và nhà nước cao nhất cũng không
thể nào bù được sự hành xử bạc bẽo và thái độ coi thuờng của họ với
tướng Giáp.
Nhưng họ cũng đã khôn ngoan tận dụng cơ thể khô héo của ông những
ngày nằm viện và làm quốc tang ầm ĩ, tốn kém chẳng phải tử tế gì với
ông, mà muốn được chú ý tới thành tích chống Pháp-Mỹ trong quá khứ và gỡ
gạc tính chính đáng của mình trong bối cảnh uy tín của ĐCSVN đang rệu
rã.
Trong dòng người xếp hàng viếng tướng Giáp tại Hà Nội, tôi tin rằng
rất nhiều người bị u mê bởi chính sách tuyên truyền về huyền thoại tướng
Giáp, nhưng chắc chắn cũng có nhiều người khác quý trọng ông thực sự,
tiễn ông đi và nhớ lại ký ức của một khoảng thời gian lý tưởng chẳng bao
giờ còn nữa.
Sau chiến tranh gần 40 năm, đất nước bị cai trị bởi một tập đoàn sâu
mọt tham nhũng, làm hao mòn sinh lực nền kinh tế, còn chủ quyền bị
Trung Quốc đe doạ nghiêm trọng.
ĐCSVN hiện tại đã phản bội lại mọi giá trị mà tướng Giáp đã chọn.
Ông là vị tướng thất bại cay đắng trong thời bình. 30 năm cuối cuộc đời
ông là bi kịch, như bi kịch của dân tộc. Ông sống khắc khoải đến chết và
để lại bi kịch này.
Vĩnh biệt ông, vĩnh biệt "Napoleon đỏ", một nhân vật bi hùng của lịch sử Việt Nam đau thương!
© Lê Diễn Đức - RFA