Ricardo Hausmann | Project Syndicate
Mai Xương Ngọc dịch
Mai Xương Ngọc dịch

“Tư bản trong thế kỷ 21″ của Thomas Piketty có thể sớm đứng cùng với cuốn Tư bản luận của Karl Marx, vốn được lấy cảm hứng từ tiêu đề này.
CAMBRIDGE – cơ sở lý thuyết có ý nghĩa rất lớn bởi nó cho phép chúng
ta hiểu các khía cạnh cơ bản của một thế giới phức tạp trong điều kiện
đơn giản hơn nhiều, như bản đồ chỉ đường. Nhưng cũng giống bản đồ, chúng
chỉ hữu ích đến một giới hạn nào đó. Bản đồ đường bộ, ví dụ, không cho
bạn biết tình hình giao thông hiện tại hoặc không cung cấp thông tin cập
nhật về sửa chữa trên đường đi.
Một cách hiểu hữu ích về nền kinh tế thế giới là khuôn khổ lý thuyết
tinh giản được giới thiệu bởi Thomas Piketty trong cuốn sách nổi tiếng
của ông “Tư bản trong Thế kỷ 21”. Ông Piketty chia thế giới thành hai
phần cơ bản – tư bản và lao động. Cả hai đều được sử dụng trong sản xuất
và được hưởng phần hoa lợi.
Sự khác biệt chính giữa hai phần cơ bản này đó là bạn có thể mua, sở
hữu, bán và về nguyên tắc, tích luỹ tư bản một cách không giới hạn, như
những người siêu giàu đã và đang thực hiện. Về lao động, việc sử dụng
năng lực một cá nhân có thể được trả công nhưng không thuộc sở hữu của
người khác, bởi vì chế độ nô lệ đã kết thúc.
Tư bản có hai tính năng thú vị. Đầu tiên, giá của nó được xác định
bởi thu nhập mà nó có thể mang lại trong tương lai. Nếu một mảnh đất tạo
ra gấp đôi sản lượng của giạ lúa mỳ hoặc giá thuê khác, thì thông
thường nó sẽ đáng giá gấp đôi. Hoặc chủ sở hữu sẽ bán nó để mua mảnh đất
khác. Điều kiện không chênh lệch giá này hàm ý rằng, trong trạng thái
cân bằng, mọi hình thái tư bản đều mang lại mức tiền lãi có điều chỉnh
rủi ro như nhau, ông Piketty ước tính theo số liệu lịch sử là 4-5% mỗi
năm.
Tính năng thú vị khác của tư bản đó là nó được tích luỹ thông qua
tiết kiệm. Một người hoặc một quốc gia tiết kiệm 100 đơn vị lợi tức có
thể nhận được hằng năm, trong tình trạng liên tục, khoảng 4-5 đơn vị. Từ
đây, sẽ rất dễ dàng để thấy rằng nếu tư bản hoàn toàn được sử dụng cho
tái đầu tư và nền kinh tế tăng trưởng thấp hơn 4-5%, tư bản và phần lợi
tức của nó sẽ phải lớn hơn so với nền kinh tế.
Ông Piketty lập luận rằng, bởi các nước giàu nhất thế giới đang tăng
trưởng thấp hơn 4-5%, các nước đó đang ngày càng phát triển không đồng
đều. Điều này có thể thấy rõ trong các dữ liệu, mặc dù một phần lớn sự
gia tăng bất bình đẳng ở Mỹ không phải do logic của lập luận này, nhưng
do sự xuất hiện của điều mà ông Piketty gọi là “những nhà quản lý siêu
giàu”, những người được trả lương rất cao (mặc dù ông không giải thích
lý do tại sao như vậy).
Vì vậy, chúng ta hãy áp dụng lý thuyết này vào thế giới để xem nó hợp
lý như thế nào. Trong 30 năm từ 1983-2013, Mỹ đã vay mượn từ các nước
khác hơn 13,3 nghìn tỷ USD, tương đương khoảng 80% GDP một năm. Vào năm
1982, trước khi giai đoạn đó bắt đầu, nước này đã thu được 36 tỷ USD
dưới dạng thu nhập tài chính ròng từ phần còn lại của thế giới, một kết
quả của vốn tư bản mà trước đây nước này đã đầu tư ra nước ngoài.
Nếu chúng ta giả định rằng lợi nhuận từ vốn tư bản đó là 4%, điều này
tương đương với việc sở hữu 900 tỷ USD từ vốn nước ngoài. Vì vậy, nếu
hạch toán, hiện nay Mỹ nợ các nước khác khoảng 12,4 nghìn tỷ USD (13,3
trừ 0,9). Nếu ở mức 4%, điều này sẽ phản ánh một khoản thanh toán hàng
năm là 480 tỷ USD. Đúng không?
Sai lầm – trong quãng thời gian dài. Mỹ không phải trả một khoản tiền
nợ ròng nào cho phần còn lại của thế giới. Thay vào đó, quốc gia này đã
thu được 230 tỷ USD vào năm 2013. Giả sử lãi suất là 4%, điều này sẽ
tương đương với việc Mỹ sở hữu 5,7 nghìn tỷ USD từ vốn nước ngoài. Trên
thực tế, sự khác biệt giữa những gì Mỹ “phải” trả nếu tính toán của ông
Piketty là đúng, vào khoảng 710 tỷ USD từ thu nhập hàng năm, hoặc 17,7
nghìn tỷ USD tổng vốn – tương đương với GDP hàng năm của nước này.
Mỹ không phải là ngoại lệ duy nhất trong tính toán sai lầm này, có
những lỗ hổng rất lớn và có tính hệ thống, như Federico Sturzenegger và
tôi đã nêu ra.
Các quốc gia khác như Chile và Trung Quốc rơi vào thái cực ngược lại.
Chile đã vay mượn rất ít trong vòng 30 năm qua, nhưng đã phải trả lại
cho thế giới như thể nước này đã từng vay 100% GDP. Trung Quốc đã cho
phần còn lại của thế giới vay trong thập kỷ qua, dưới dạng lãi thực,
khoảng 30% GDP hàng năm của nước này, nhưng lại gần như không được hưởng
lợi gì. Từ góc độ làm giàu, điều này như thể là đã không hề tồn tại các
khoản tiết kiệm.
Vậy điều gì đang xảy ra? Câu trả lời đơn giản đó là mọi chuyện không
được hình thành chỉ bằng tư bản và lao động, như ông Piketty đã lập
luận. Chúng cũng được tạo nên bằng tri thức.
Để nhìn rõ hơn ảnh hưởng của thiếu sót này, hãy xem khoản vay ròng
của Mỹ là 13 nghìn tỷ USD, nhưng đã đánh giá rất thấp mức độ cho vay
tổng thể, khoảng hơn 25 nghìn tỷ USD dưới dạng cho vay. Mỹ đã dùng 13
nghìn tỷ USD để trang trải thâm hụt ngân sách và dành phần còn lại để
đầu tư nước ngoài.
Số tiền này được sử dụng bằng tri thức dưới dạng đầu tư nước ngoài
trực tiếp (FDI), và tiền lãi cho cả hai là 9% nếu so với 4% hoặc ít hơn
để trả lãi người cho vay. Trên thực tế, 9% của 12 nghìn tỷ USD lớn hơn
nhiều so với 4% của 25 nghìn tỷ USD, do đó điều này đã giải thích rõ
ràng cho câu hỏi.
Chile và Trung Quốc dùng tiền tiết kiệm của họ ở nước ngoài mà không
kết hợp chúng với tri thức – họ mua cổ phiếu và trái phiếu – kết quả chỉ
nhận lại được 4-5% hoặc ít hơn con số mà ông Piketty giả định. Ngược
lại, các nhà đầu tư nước ngoài tại Chile và Trung Quốc lại đưa vào tri
thức có giá trị; do đó tổng vốn tư bản chảy vào mạng lại nhiều lợi tức
hơn tổng mức tiết kiệm tại nước ngoài. Sự khác biệt về lợi tức đó không
được cân đối lại, bởi vì người ta cần tri thức để có lợi nhuận cao hơn.
Vấn đề là làm sao tạo ra và phát huy tri thức là một nguyên nhân quan
trọng trong việc tạo ra của cải. Sau cùng, các công ty Apple, Google,
và Facebook gộp chung lại có giá trị hơn một nghìn tỷ USD, cho dù vốn
đầu tư ban đầu là một phần rất nhỏ.
Đủ cho mọi người đút túi phần chênh lệch đó. Tri thức nằm trong các
nhóm liên kết chặt chẽ, không phải trong mỗi cá nhân. Mỗi người trong
nhóm giữ vai trò rất quan trọng, nhưng bên ngoài nhóm đó, mỗi cá nhân
không có nhiều giá trị. Cổ đông có thể muốn giành lấy sự chênh lệch lợi
nhuận đó, nhưng họ không thể làm được nếu không có nhóm của mình.
Đó là lý do liên quan đến các nhà quản lý siêu giàu: họ cố gắng bỏ
túi một phần giá trị mà một nhóm tạo ra. Đằng sau sự phát triển dẫn đến
của cải và bất bình đẳng không chỉ nằm ở tư bản, mà còn ở tri thức.
[*] Ricardo Hausmann, cựu bộ trưởng kế hoạch của Venezuela và cựu
tổng giám đốc kinh tế của Ngân hàng Phát triển Xuyên Quốc Gia Mỹ, là
một giáo sư kinh tế tại Đại học Harvard, nơi ông cũng giữ chức Giám đốc
Trung tâm Phát triển Quốc tế.
Nguồn: Ricardo Hausmann, “Piketty’s Missing Knowhow“, Project Syndicate, ngày 27 Tháng Năm 2013.
Bản Tiếng Việt © 2014 The Pacific Chronicle