Thứ Bảy, ngày 27 tháng 12 năm 2014

Sự hình thành Nhà Đối Kháng trên mạng

Vanessa Hua

Cuối năm gửi các bạn bài viết trên tờ San Francisco Chronicle để tham khảo. Ký giả Vanessa Hua, là người đã nhận giải thường về văn chương của San Francisco Foundation’s James D. Phela. Thời gian qua nhanh, cậu bé con 10 tuổi trong hình giờ đã bước vào ngưỡng cửa Đại học và cám ơn bạn Đặng Sao Minh đã bỏ công chuyển ngữ – ĐTC
Đỗ Thành Công đã nỗ lực rất nhiều với tư cách là người tị nạn và cha của ba đứa con. Nhưng chính cuộc sống bí ẩn kiên trì đấu tranh dân chủ cho Việt Nam đã tạo ông thành một sự kiện chú ý nơi công luận quốc tế.
- Đặng Sao Minh chuyển ngữ – San Francisco Chronicle Magazine – Dec 10, 2006.
DTCong2
The Making of a Cyber Dissident – Cong Do had accomplished a lot as an immigrant and father of three. But it was his secret life fighting to bring democracy to Vietnam that made him an international cause celebre. ” – Vanessa Hua

Đỗ Thành Công bị tù tại Thành Phố Hồ Chí Minh hơn một tháng, sau khi nhà cầm quyền phát hiện ông ta là một trong những nhà tranh đấu dân chủ hàng đầu trên mạng.
Ngay lập tức, anh đã biết anh đang bị theo dõi.
Vào một buổi sáng mùa hè nóng bức trong cuối tháng Bảy, Đỗ Thành Công rời khỏi khách sạn ở Sài Gòn. Các công an thường phục bắt đầu bám sát theo anh bằng đi bộ và xe máy, họ len lỏi lách ngang dọc qua đám đông trên đường Đông Du.
Họ đã biết được gì?
Trong khoảng nửa tiếng đồng hồ, người đàn ông San Jose đã cố gắng lách tránh, cắt đuôi công an, mật vụ trước khi anh thoát khỏi họ. Nhưng khi trở lại khách sạn sau vài tiếng đồng hồ, công an cũng đang canh chừng ở đây, có cả một bộ phận theo dõi với máy chụp hình tầm xa.
Có lẽ họ theo dõi anh vì anh là một Việt-Kiều — người Việt Nam ở nước ngoài trở về? Hay họ đã biết là những ngày trước đó, anh có gặp các lãnh đạo Đảng Dân chủ Nhân dân Việt Nam , đảng do anh sáng lập vào năm 2005? Mặc dù có rất nhiều tổ chức lưu vong tồn tại, đảng ông Đỗ hoạt động ở trong nước cho việc đòi cải cách dân chủ. Hoạt động như thế thật rất nguy hiểm và xem là phi pháp tại một quốc gia mà hiến pháp của nó chỉ chấp nhận một đảng chính trị: Đảng Cộng sản nắm toàn quyền cai trị Việt Nam từ năm 1975.
Để tự bảo vệ, các đảng viên đã sử dụng nhiều bí danh với nhau và không tiết lộ chi tiết cá nhân. Ông Đỗ cũng giữ các hoạt động cho dân chủ của ông rất bí mật đối với người vợ và ba người con của ông. Đối với gia đình, ông ta là một kỹ sư điện ít nói, một người cha và người chồng mến yêu, một người sành sỏi về rượu ngon, một người sưu tầm đồ cổ Việt và thích đọc Ernest Hemingway. Đối với các nhà bất đồng chính kiến, ông được biết là Trần Nam , một nhà hoạt động trên nét, người đang kết nối họ với thế giới bên ngoài.
Vào ngày của tháng Bảy ấy, anh đã đối phó với một chọn lựa: Có nên rời Việt Nam ngay, hay đi gặp vợ và cháu trai 9 tuổi, hai người mà anh gởi đi gặp thân nhân trước đó? Ông Đỗ đã chọn ở lại — một quyết định tiền định, đã dẫn đến sự bắt bớ và giam cầm anh hơn một tháng trời và gây sự xem xét kỹ lưỡng nơi quốc tế đối với chế độ mà anh đã tìm cách vạch trần bản chất của nó.
“Sinh sống tại Hoa Kỳ, tính dân chủ tác động đến chúng tôi rất lớn. Những quyền tự do mà chúng ta được hưởng, được quyền bỏ phiếu, chọn lựa những nhà lãnh đạo riêng của chúng ta,” ông Đỗ, một người đàn ông rắn chắc với bộ râu vòng và cái nhìn chằm chằm đầy nhiệt huyết. “Việt Nam phải đi theo con đường đó.” Đang nghỉ ngơi với gia đình tại căn nhà của ông sau ngày trở về, ông Đỗ nói vậy.
Tìm kiếm một Tương lai
Ông Đỗ chào đời tại Mường Mán, một làng nông nghiệp nhỏ tại miền Trung Việt Nam Pham, người con thứ ba trong gia đình 3 trai và 4 gái. Mẹ buôn bán một tiệm thực phẩm nhỏ, với sự phụ trợ của cha ông, người chuyên môn về cây trái kiêm y sĩ chăm sóc gia súc. Khi còn nhỏ, ông Đỗ rất thích đọc những cuốn sách của cha ông nói về chính trị và lịch sử Việt Nam . Mẹ ông cất giữ tất cả những phần thưởng và bằng khen của ông từng mỗi lớp, vững tin rằng một ngày nào đó ông sẽ trở thành người trí thức của gia đình.
Trong thời chiến tranh Việt Nam , ông thường được chứng kiến những cảnh đánh nhau của người lính và xác chết tìm thấy được bởi dân làng. Nếu họ nghe tiếng bom hay đạn bắn, cả gia đình chạy xuống hầm trốn. “Chuyện đó rất bình thường đối với tôi. Dần rồi tôi cảm thấy quen với nó.”
Ông đã theo học một trường trung học tại Phan Thiết, một thành phố biển cách gia đình ông khoảng vài cây số. Theo học tại một trường Phật Giáo, từng sống trong Chùa nơi ông phụ việc để có cơm ăn chổ ở, và vào cuối tuần thì đạp xe đạp về thăm nhà. Tại trường này là nơi mà ông ta gặp người vợ tương lai của ông, cô Bùi Tiên.
Khoảng năm 1981, cặp vợ chồng nhận thấy họ sẽ không có tương lai tại một quốc gia dưới sự cai trị của Cộng sản.
Ông Đỗ, lúc đó 22 tuổi, hoạch định cách trốn thoát của họ. Bảy lần, ông đã cố gắng và thất bại. Ông thương lượng với các chủ ghe, gôm tụ đồ dự trữ và liên lạc xem còn những ai muốn trốn đi nữa không. Họ sẽ bải bỏ kế hoạch nếu họ tình nghi Cộng sản có thể khám phá ra, hay nếu các chủ ghe không dám ra khơi nữa.
Cuối cùng, vào một đêm khuya trong tháng Mười, ông Đỗ, người anh, em gái, cô bạn gái Tiên, người em và cháu của Tiên từ từ rời bến trên mấy chiếc thúng đánh cá nhỏ kiểu đan kết. Họ chèo nhẹ nhàng ra phía Biển và sau đó chuyển sang chiếc ghe lớn hơn — nhưng vẫn nhỏ hơn phòng khách của ông — ở đó họ kết gặp thêm khoảng 100 người nữa. Ông Đỗ không mang theo một xu, chỉ bộ quần áo trên người. Và họ không được nói cho ai chuyện trốn thoát, kể cả gia đình vì e ngại giới chức trách biết được. Sau ba ngày, những người tị nạn này kiệt cạn xăng dầu, lương thực và nước uống thì đúng lúc gặp một chiếc thuyền chở dầu hỏa đi Hồng Kông cứu vớt. Ông Đỗ, là người biết nói tiếng Anh trong thuyền, đảm nhiệm vai trò lãnh đạo và thông dịch, cô em gái Đỗ Ivy của ông tâm sự.
“Tất cả những người vượt biển đó sẽ không có được cơ hội cho cuộc sống tốt lành hôm nay nếu không có tính quả quyết và lòng dũng cảm nơi anh ấy,” cô Ivy nói, cô đang sinh sống tại một thành phố nhỏ của Dallas-Fort Worth. Vài năm sau đó, cô ra trường với tấm bằng cao học về kỹ sư phần mềm, từng làm chủ vài nhà hàng và nay cùng làm chủ một công ty công nghệ nhỏ. “Anh ta luôn là người gương mẫu của và niềm cảm phục cho tôi.”
Gia đình tại Việt Nam đã để tang những cái chết của họ sau đó, cứ nghĩ rằng tất cả đã chết trên biển rồi, cô ta chia sẻ, cho đến khi nhận được các thư gởi từ Hồng Kông. Trong sáu tháng, Đỗ Công và Tiên, cặp vợ chồng trẻ, sống chung với nhau tại một khu ở chung trong trại tị nạn, đi làm cho xưởng đồ chơi và theo học mấy lớp tiếng Anh cho đến khi việc thủ tục bảo trợ nơi người anh của cô vợ anh ta được xét duyệt xong.
Lên đường đi Mỹ.
An cư Lập nghiệp
Ông Đỗ, vợ ông, cô em vợ và người cháu trai nương sống trong căn phòng thuê tại bang Virginia nơi mà ông anh vợ đang định cư sau khi trốn thoát Việt Nam vào năm 1975.
Ông Đỗ đi làm quét dọn trường học vào buổi tối, và ban ngày thì theo học tiếng Anh. Cô vợ tên Tiên, chọn tên Mỹ là Jane, đang mang thai đứa con đầu lòng, cháu trai, Viên, sinh năm 1982 — tên của một tỉnh nhỏ nơi họ sinh sống, Vienna . Đối với con cái của họ, họ kết hợp tên của hai họ — Đỗ và Bùi — để tạo ra một cái tên họ mới, ĐỗBùi, nhằm kỷ niệm đánh dấu cho một thế hệ mới trên đất Mỹ.
Cho dù cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn, cặp vợ chồng trẻ đã được hưởng thụ các quyền tự do mới của họ. Họ lại dời về bang Texas được hai tháng vì khí hậu nóng quá và sau đó thì đến miền Nam bang California . Ông Đỗ ghi danh học tại Đại học California State Polytechnic, thuộc thành phố Pomona , nơi này ông theo học ngành kỹ sư điện. Vợ ông hỗ trợ cho gia đình bằng cách đi làm tại một xưởng may vá.
Họ lại sanh thêm một cháu gái, tên Biên, và trong năm 1988, ông Đỗ và vợ ông trở thành công dân Mỹ. Hai năm sau đó, anh ra trường và bắt đầu đi làm, từ đây lần đầu tiên anh ta có nhiều thì giờ để mở mang tính say mê về chính trị.
Anh quan sát sự sụp đổ của những chế độ Cộng sản tại Đông Âu và anh bắt đầu hy vọng sự kiện tương tự sẽ xảy ra tại quê hương anh. Vào năm 1990, anh tham gia vào Tổ chức Phục hưng Việt Nam , một đoàn thể đấu tranh cho dân chủ hoạt động công khai — không phải ngầm như các nhóm mà sau này anh sáng lập. Họ họp mặt thảo luận về tình hình chính trị tại Việt Nam và nâng cao sự nhận thức về nhân quyền.
Năm đó, anh cũng trở về Việt Nam lần đầu tiên, để thăm viếng gia đình và nghiên cứu tình hình chính trị. Sau đó, anh đi thăm nước Nga, Đức và Tiệp Khắc nhằm tiềm hiểu thêm một cách tổng quát về sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản.
Sự nhận thức rõ về tình hình chính trị trong anh giống như bao nhiêu người Việt tị nạn khác cũng bắt đầu trăn trở đối với vận mệnh của đất nước họ. Sau cuộc chiến, vài chục ngàn người tị nạn đến định cư tại Hạt Cam, nơi tập trung lớn nhất được thiết lập ngoài biên phận Việt Nam . Nhiều trung tâm phố chợ, cửa tiệm sách báo và hội đoàn văn hóa của người Việt đã phát triển mạnh — cũng như các đoàn thể lưu vong.
Vào những năm đầu thập niên 1990, một tổ chức người Mỹ gốc Việt từ Nam Cali kết hợp với nhiều nhà đối kháng tại Việt Nam hầu hình thành một đảng chính trị non trẻ, Phong trào Đoàn kết và Xây dựng Dân chủ. Nhưng khi họ tìm cách tổ chức một hội nghị đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam , giới cầm quyền trục xuất những người trong ban tổ chức có quốc tịch Hoa Kỳ và bỏ tù những người địa phương.
Chính phủ Tự do Việt Nam , một đoàn thể chống cộng trụ tại Hạt Cam, được thành lập vào năm 1995 với một mục tiêu là lật đổ chính quyền Việt Nam . Giới chức trách Việt Nam cáo buộc đoàn thể này có ý đồ đặt bom tại các tòa lãnh sự Việt Nam tại Phi-Luật-Tân và Thái Lan vào năm 2001, và vài nơi khác. Nguyễn Thương “Cúc” Foshee, 58 tuổi, cư dân bang Florida, Hoa Kỳ, đã ngồi tù hơn một năm, bị bắt giam khi bà ta về thăm Việt Nam, với lý do là giới chức trách tin rằng sự tham gia nhiệt tình vào đoàn thể này của bà ta là tương đương như một kẻ khủng bố. Bà ta được trả tự do vào tháng trước.
Đảng Canh tân Việt Nam, thiết lập vào năm 1982, có trụ sở tại San Jose, cũng một trung tâm sinh sống có đông người Việt tại Hoa Kỳ. Họ vận động từ phía quốc tế để áp lực lên chính quyền Việt Nam cho việc cải cách chính trị và ngay tại Việt Nam, phối hợp và phát thanh chương trình radio về Việt Nam mỗi ngày, phát hành tạp chí tin tức hàng tháng.
Nhiều đoàn thể lưu vong Việt Nam thường xuyên gắng sức can thiệp vào tình hình chính trị tại quê nhà.
“Đây là một truyền thống của nhiều đoàn thể lưu vong luôn gắng thử tìm cách móc nối khi về thăm quê hương. Họ có nhiều kỹ năng và thân nhân gia đình – những người sẽ giúp họ, do vậy những quốc gia đó theo dõi kỹ càng lắm,” ông Thomas Carothers, một chức trách chuyên về dân chủ tại Viện Carnegie cho Hoà bình Quốc gia, một cơ quan tư vấn tại Hoa Thịnh Đốn cho biết. “Họ được xem như là những nguồn tin tức đối với những người ở hải ngoại, và từ phía tại quốc nội.”
Ông nói thêm, tuy nhiên: “Trong hầu hết nhiều trường hợp, những đoàn thể lưu vong không thể đảm trách như một vai trò có tầm quan trọng về sự chuyển đổi dân chủ như họ thường ước mong, như chúng ta chứng kiến tại Irắc. Những người trở lại quê nhà sau khi sinh sống ở hải ngoại hiếm khi có được những mối quan hệ hay sự tín nhiệm để đảm trách một vai trò chủ yếu cho việc chuyển tiếp. Điểm trọng tâm của sự chuyển đổi phải xuất phát từ phía trong.”
Những đoàn thể đấu tranh cho dân chủ tại Mỹ đã nổi bật khi mối quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam bắt đầu chớm nở vào đầu thập niên 1990. Hoa Kỳ bắt đầu xét cấp giấp phép cho nhiều công ty Hoa Kỳ đến mở nhiều văn phòng, bải bỏ các ràng buộc về những đề án từ những hội đoàn từ thiện Mỹ, và cho phép việc thiết lập những kết nối đường dây thông tin với Việt Nam.
Mặc dù quê nhà của họ đã mở cửa đầy đủ để cho người Việt hải ngoại về thăm viếng, đối với nhiều nhà đối kháng dân chủ, sự chuyển đổi thật chưa được nhanh kịp lắm.
Trong khi ông Đỗ đã lún sâu vào tình hình chính trị Việt Nam , ông và vợ ông mua một tiệm cho thuê phim tại phía Trung Nam ở thành phố Los Angeles vào năm 1992. Ông làm việc mỗi đêm lẫn cuối tuần tại tiệm, sau giờ làm việc tại hãng kỹ sư. Hai tháng sau, hầu hết cửa tiệm bị đốt cháy, trộm cướp vì một vụ nổi loạn ở Los Angeles . Gia đình ông bà ĐỗBùi bắt đầu gầy dựng lại, nhưng sau hai lần bị cướp dí súng vào đầu, họ quyết định bán tiệm.
Vào năm 1997, họ chuyển dời về Vùng Vịnh, nơi mà ông Đỗ kiếm được việc làm trong một xí nghiệp điện tử. Sau khi ông bị sa thải, ông mở một tiệm bán bánh mì sỉ — sau nhiều lần cố gắng tự trao dồi cho mình bằng cách làm thử bánh mì và bánh crossaint cho cả gia đình dùng mỗi buổi sáng.
Cha mẹ cô ta làm việc rất nhiều giờ trong những năm tháng cô ta lớn lên, cô con gái ĐỗBùi Biên 21 tuổi, hồi tưởng lại. Họ không thể đi dự những buổi trình diễn hay rất nhiều buổi sinh hoạt thi đua sau giờ học tại trường như các phụ huynh khác, nhưng cô ta không bao giờ mong đợi từ họ.
“Tôi hiểu. Cha mẹ tôi là những người tị nạn. Họ không phải sinh đẻ ở đây. Họ phải tìm kế mưu sinh,” cô Biên tâm sự. Dáng người thon, với mái tóc dày và cắt ngang trán được dấu phía sau tai mà chính cô ta tự cắt lấy.
Sau khi bán tiệm bánh, ông Đỗ đi làm lại vào năm 2003 cho công ty Applied Materials, nhà cung cấp sản phẩm và thiết bị lớn nhất thế giới về công nghiệp điện tử. Là một kỹ sư chế tạo, ông thường bay đến Á Châu hơn 75% cho việc công tác. Ông cũng có phần hùn vào một tiệm cà phê và bánh tại thành phố Garden Grove .
Cho dù ông Đỗ đã thành đạt tại Mỹ, những lòng của ông luôn nghĩ đến đồng bào ở Việt Nam .
Vào năm 2002, ông sáng lập Câu lạc bộ Dân chủ cho Việt Nam , với mục tiêu là sẽ hoạt động từ phía quốc nội. Đó là một phương cách duy nhất để đem lại sự chuyển đổi thực tiễn, ông tin chắc vậy. Ông Đỗ bắt đầu gởi điện thư hằng tháng đến các nhà hoạt động tại Việt Nam .
“Rất nhiều người quan tâm về tình hình chính trị. Họ mong muốn được thấy sự chuyển đổi. Tôi gởi những bài viết. Tôi kết nối với họ qua Nét. Ông Đỗ nói, ông có vài tá email nhằm đánh lạc hướng giới cầm quyền. “Rất nhiều người tại Việt Nam tôi cảm nhận phải có trách nhiệm với họ.”
Với ông Đỗ và nhiều nhà đối kháng khác, mạng Web thật đã trở thành một phương tiện quan trọng cho việc chuyển tải thông tin và liên kết tổ chức tại Việt Nam .
Thành phần sử dụng Internet ở Việt Nam đã tăng mạnh lên đến hơn 7 triệu người sử dụng trong năm 2005, gần như gấp đôi so với một năm trước đây. Với việc tăng trưởng đó, chính quyền đã tăng cường sự kiểm soát, đang ra sức giám sát và ngăn chận nội dung từ Nét.
Tại nhà, ông Đỗ dùng cái máy laptop để làm việc cho đến khoảng nửa đêm, trong khi gia đình ít để ý đến việc làm của ông thường ngồi gần đó. Họ cho rằng ông ta đang làm việc liên quan đến công việc kỹ sư hay đọc báo chí tin tức trên Nét. Những lần về Việt Nam , ông thường đi vắng vài tiếng đồng hồ, nói rằng đi gặp bạn bè nhưng thực ra đi gặp các nhà đối kháng. Ông đã tránh khỏi sự chú ý nơi chính quyền, ông nghĩ vậy, viện lý rằng nếu không thì giới chức trách đã phải bắt ông hay các đồng sự từ lâu rồi.
Đôi khi vợ ông ta đặt câu hỏi về những gì ông đang làm, nhưng ông ta thường trả lời là không có gì cả. Vì ông không muốn bà ta liên lụy vào. “Nếu có gì xảy ra, họ có thể làm hại đến bà ta,” ông nói vậy.
Quyết đẩy mạnh Dân chủ
Ngay vào đầu năm ngoái, ông cùng sáng lập Đảng Dân chủ Nhân dân với bác sĩ (Lê Nguyên Sang) ở Việt Nam , hiện nay đã bị bắt, và thêm một nhà hoạt động khác, (Trần Hoàng Lê) người vẫn còn đang hoạt động ngầm.
Biểu tượng của đảng là một hình tam giác gôm tụ của ba tam giác nhỏ như cách tượng trưng cho ba nhánh (Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp) của chính quyền. Đồng thời tam giác màu đỏ mang ý nghĩa xương máu tượng trưng cho sự hy sinh, tam giác màu vàng dành cho dân tộc Việt và tam giác màu xanh biểu hiện sự hy vọng, tương lai và trẻ trung của tuổi trẻ.
Khoảng 90% đảng viên của đảng hoạt động tại Việt Nam , đa phần là sinh viên. Còn lại 10% thì phân tán trên toàn cầu từ Hoa Kỳ, bên Canada và đến Âu Châu, ông Đỗ nói, xin phép từ chối không thể tiết lộ con số của thành viên. Chính quyền Việt Nam , ông quá biết, sẽ có thể tìm ra trong bất cứ lúc nào. “Họ là chủ nhân trên toàn đất nước. Nếu họ muốn theo dõi, họ sẽ theo dõi. Nó không giống như ở Hoa Kỳ.”
Kể từ năm 2002, ông vẫn thường giữ liên hệ với các tổ chức bảo vệ như là Hội Ân xá Quốc tế và Phóng viên Không Biên giới dưới bút hiệu Trần Nam, ông báo động đến họ mỗi khi các nhà đối kháng bị hành hung tại Việt Nam.
“Vào lúc ban đầu, không ai chịu lắng nghe. Họ không biết bạn là ai, cho nên tại sao họ phải lắng nghe bạn?” ông Đỗ nói. “Nên căn cứ vào những thông tin trung thực. Bạn phải tạo dựng tính tín nhiệm từ đó.”
Ủy ban Bảo vệ Ký giả dựa vào những phóng viên và gia đình họ, các nhà hoạt động cho thông tin và nhiều luật sư cho những cập nhật mới về các tình trạng hăm dọa cho đến tự do thông tin, ông Bob Dietz nói, nhà phối kết chương trình cho một hội Á Châu tại New York.
“Các đoàn thể lưu vong và nhiều mạng lưới của các nhà đối kháng hải ngoại rất là nhiệt tình về việc cung cấp tin tức trong nước — đặc biệt nhất là các loại tin tức mà chính quyền không muốn lọt ra bên ngoài,” ông Dietz nói, hơn nữa ông Đỗ thường biết khi nào các ký giả bị bắt giam trước khi giới truyền thông quốc tế tường trình. “Ông ta vẫn thường xuyên giữ liên hệ với cộng đồng đối kháng tại Việt Nam , và chúng tôi nhận thấy nơi ông có những nguồn tin tức đáng tin cậy.”
Chính quyền luôn nhắm vào những “nhà đối kháng-trên Nét” mà họ thường bị bỏ tù về những tội phạm phổ biến trên Nét các bài viết về những cuộc biểu tình của nông dân, chuyển dịch các văn bản tiếng Anh như nhan đề “Dân chủ là gì?” lấy từ một trang Web của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hay những bài viết và bài bình luận khác cho rằng có tính đe dọa đến sự cầm quyền của nó.
Những cuộc bầu cử ở Việt Nam thường không được “tự do hay công bằng,” theo bản phúc trình về nhân quyền của Bộ Ngoại giao Hoa kỳ, và hồ sơ về nhân quyền của chính quyền vẫn còn “không vừa lòng” về việc công an hành hung nghi can, tình trạng giam cầm khắc nghiệt, ngăn chận việc tự do di chuyển, và ngăn cấm các tổ chức nhân quyền.
Hơn khoảng 26.000 người, gồm có tám tù nhân lương tâm, được phóng thích trong ba lần ân xá tù nhân đánh dấu những lễ kỷ niệm quốc gia năm ngoái, theo tin của Hội Ân xá Quốc tế.
Trong tháng Tư năm nay, nhiều giáo sư, nhà văn, lãnh đạo tôn giáo và cựu chiến binh phát động một phong trào đấu tranh cho dân chủ được biết đến là “Khối 8406,” ký tên vào bản kiến nghị kêu gọi thay đổi chế độ. Giới chức trách Việt Nam lên tiếng rằng phong trào đấu tranh này là phi pháp và không chấp nhận được, nói rằng những hoạt động kiểu “ngụy trang phong trào dân chủ” như một công cụ hầu vi phạm quyền lợi của nhà nước.
Trong bối cảnh chính trị đó, ông Đỗ đã gặp mặt hai lãnh đạo của Đảng Dân chủ Nhân dân trong tháng Bảy tại Việt Nam, để bàn luận làm sao đưa Đảng DCND ra hoạt động công khai vào năm 2007 và thách đố vai trò hợp pháp của Đảng Cộng sản.
Ông gặp một lãnh đạo Đảng tại một quán cà phê, và người kia tại một nhà hàng, các nơi mà họ tham khảo về chiến lược với khoảng 1 tiếng mỗi lần. Ông đã có ý định sẽ gặp thêm nhiều đảng viên khác nữa, nhưng sau khi phát hiện giới chức trách theo sát ông vào ngày 4 tháng Tám, ông chấm dứt các liên hệ email.
Khoảng 6g sáng, ngày 14 tháng Tám, đang đứng trước sân nhà nơi ông đang tạm trú với vợ tại Phan Thiết. Họ đang nghỉ ngơi trò chuyện với bà con thân nhân trước khi dự định trở lại Mỹ trong vài ngày tới. Bất thình lình một chiếc xe công an với bốn đàn ông và nhiều công an thường phục bao vây căn nhà hai-phòng.
“Xong rồi, kể như tàn,” ông nghĩ vậy.
Họ tấn xông vào nhà làm mọi người run sợ. Công an cáo buộc ông là kẻ khủng bố và đang âm mưu chuẩn bị đặt bom tại Toà Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn.
“Phải rời khỏi Việt Nam ngay,” ông nói nhanh với vợ ông, không có thể tiết lộ cuộc sống hai mặt của ông cho bà ta.
“Con trở lại ngủ đi,” ông bảo dặn cháu trai 9 tuổi của ông, đứa bé bắt đầu khóc vì sự hiện diện của những người đàn ông lạ mặt.
Bà con lối xóm đứng nhìn theo dõi nhưng không dám đến gần. Tại đồn công an địa phương, giới thẩm quyền vặn hỏi bà Tiên Jane về chồng và gia đình bà. Trong lúc này, công an chở thẳng ông Đỗ vào Sài Gòn, khoảng bốn tiếng đồng hồ lái xe.
Ông Đỗ đã sống sót ngoài biển đại dương, trải qua vụ nổi loạn tại Los Angeles và qua nhiều gian truân khi hội nhập vào Mỹ. Nhưng sự thử thách khó khăn nhất thật sự đã bắt đầu.
Ngồi Tù
“Kể cho chúng tôi về cái đảng của ông. Các đảng viên của ông sinh sống ở đâu? Đưa cho chúng tôi các địa chỉ email của họ.” Lúc đầu, giới công an cáo buộc ông ta là kẻ phản bội, kẻ khủng bố, kẻ phản động. Đến ngày thứ ba, họ vặn hỏi ông Đỗ về Đảng chính trị của ông và cái bút hiệu của ông, hiển nhiên ông thừa biết mục tiêu của họ là cố moi móc cái tổ chức của ông.
Giới công an đã hỏi cung ông Đỗ hai hoặc ba lần mỗi ngày tại một nhà tù nhỏ kéo dài khoảng bốn tiếng rồi ngưng nghỉ và tiếp tục lại từ đầu. Hoặc chúng giam nhốt ông biền biệt trong khoảng vài ngày, nhiều khi ông muốn được đi ra ngoài, nói dăm ba câu vô thưởng vô phạt vì không chịu đựng cái không khí nóng và trống vắng đó.
Chúng gắng sức làm cho ông bối rối bằng cách nói với ông là những lãnh đạo của đảng mà ông đã gặp đã bị bắt sau ông hai ngày. Ông Đỗ liếc xuống tập hồ sơ thì nhận hiểu được là chúng nói láo. Những người đó cũng bị bắt cùng ngày với ông, một người bị bắt tại văn phòng bác sĩ, người kia bị bắt ngay ở nhà. Ông Đỗ đổ lỗi cho ông vì thiếu cẩn trọng nên mới dẫn đến vụ bắt bớ.
Ông kể cho giới công an những gì mà ông nghĩ họ đã biết. Ông nghi đoán là giới thẩm quyền đã theo dõi ông sau buổi ông gặp mặt với những nhà hoạt động hoặc đã theo sát những lãnh đạo đảng tại Việt Nam từ lâu qua việc đọc trộm emails của họ.
Nhóm công an hăm dọa ông là cho ngồi tù mút mùa và nói với ông, “chết hay sống hoàn toàn phụ thuộc vào họ.”
Chúng còn bắn tiếng hăm dọa ảo về vợ ông, nói rằng, “Bà ta đang ở đây,” làm ông Đỗ lo lắng.
Bà Tiên Jane đã ở lại sau khi đến Toà Lãnh Sự Hoa Kỳ yêu cầu sự giúp đỡ. Nhưng giới thẩm quyền cắt các đường dây điện thọai và Internet nơi mà bà ta tạm trú, vì lẽ đó bà rời Việt Nam vào ngày 15 tháng Tám trong tâm trạng thất vọng.
Ngay ngày đầu ông bị bắt giam, ông Đỗ đã bắt đầu tuyệt thực, chỉ uống sữa, nước chanh, nước lạnh và bột gạo. Ông ở chung phòng với hai người tù, hai người mà ông cho là có công cứu sống ông. Khi ông yếu đuối và kiệt sức, họ giúp ông ăn uống và tắm rửa.
Ông Đỗ nằm ngủ trên sàn xi măng và mặc bộ đồng phục tù nhân sọc đen và trắng — giống như trong một cuốn phim ông rất thích, “Papillon – người tù khổ sai” câu chuyện về một người đàn ông bị oan, bị kết tội giết người nhưng luôn tìm mưu tính kế trốn thoát hết lần này đến lần khác.
Ông quên mất giờ giấc. Để giết thì giờ, ông luôn ngồi thiền. Khi ông bắt đầu hoạt động đấu tranh cho dân chủ, ông thường luyện tập ngồi thiền cho tình huống xấu có thể xảy ra như sự việc này. Khi mới bị bắt vài ngày, buồn ông cũng làm thơ:
Người Tù Cô Đơn *
Đêm nghe mưa trong tù Ngồi đếm lá thu bay Đêm nghe mưa trong tù Buồn nát những cơn say
Sao đi mãi không về Để em ngóng em trông Đêm nghe mưa trong tù Lệ ai rớt thành giòng
Và ông buồn chảy nước mắt, ngẫm nghĩ đến gia đình ông. “Chuyện gì đang xảy ra đến họ, cuộc sống họ ra sao — việc ấy làm tôi đau đớn vô cùng. Nếu tôi nghĩ nhiều đến việc ấy, tôi chắc sẽ điên lên.”
Một buổi tối, không khí thật nóng bức và ngộp thở. Nhìn qua cửa sổ chỉ thấy bầu trời âm u. Ông Đỗ té xuống sàn nhà, thở hổn hển, rồi lại nghẹt thở, trong sự quằn quại do cơn bịnh suyễn. Ông nghĩ ông sẽ chết. Ông nghĩ đến gia đình ông.
Hai người bạn tù của ông bắt đầu khóc và cầu cứu mấy người canh gác giúp đỡ. “Làm ơn! kêu bác sĩ”
“Ông ngưng tuyệt thực đi,” người canh gác đáp lại, và không làm gì hết.
Ông Đỗ cố bò qua phía vách tường dưới cửa sổ, và ngồi đó đến khi ông lấy lại hơi thở.
Đấu tranh từ phía bên nhà
Trong vào tuần đầu, gia đình ông Đỗ làm việc với Bô ngoại giao cho việc phóng thích người cha của họ. Nhưng giới thẩm quyền Việt Nam không cho phép nhân viên toàn lãnh sự Hoa Kỳ thăm viếng cho đến ngày 1 tháng Chín. Trong buổi gặp mặt đó, ông Đỗ phủ nhận ông là người khủng bố và tiết lộ là ông là lãnh đạo của Đảng Dân chủ Nhân dân — cái tin thật là một sự hoàn toàn sửng sốt đối với gia đình ông ta.
Giới chức trách Hoa Kỳ tại Việt Nam đã nói rằng họ không thấy chứng cớ nào cho rằng ông Đỗ có ý định tấn công lãnh sự của họ tại SàiGòn cả.
Cậu con trai tên Viên và cô con gái tên Biên sau cùng lại bắt đầu tìm cách liên hệ với các tổ chức nhân quyền, chính khách và phóng viên. Cả hai quyết định tạm nghỉ học đại học để lo việc cho vụ kiện của cha họ.
“Kính gởi Quí Ông, cha tôi là một công dân Hoa Kỳ và cư dân của San Jose , Cali . Ông bị giam cầm tại Sài Gòn. Văn thư đính kèm và dưới đây là bản tường trình chính xác của gia đình tôi về việc giam cầm,” trích từ một email. Ban đầu chỉ nhận được vài phúc đáp. Anh em họ không có kinh nghiệm làm việc với giới truyền thông báo chí, với sự hoạt động, trong việc họp mặt với giới chính khách — nhưng họ kêu gọi các đoàn thể có kinh nghiệm và liên lạc với những ai họ biết. Một người bạn giúp họ tạo dựng một trang web nhà, freecongdo.org, những bạn khác chuyển tải các kiến thư.
Tại trường Trung học Pioneer ở San Jose, cô Đỗ Bùi Biên giữ chức vụ trưởng hội của hội Xã hội Danh dự, người sáng lập của một liên minh giới-đồng tính và học sinh đại diện cho khu vực trường học, và vài vai trò lãnh đạo khác.
Về việc vận động cho cha của cô, cô là một “phát ngôn viên và nhà chiến lược chính trị”, cậu trai Viên là “người cố vấn về công nghệ và giao liên” của họ, và bà mẹ của họ là “tổng biên tập.”
Những danh chức đó “chỉ là một cách để giữ chúng tôi đừng quá nghiêm trang,” cậu trai ĐỗBùi Vien nói, 24 tuổi, người như họa sĩ, với bộ râu quai nón và cao gầy và đội mũ len và chiếc áo rút ngắn loại hípbi.
Các công tác với danh chức cao trọng này chỉ là sự tương phản đối với sự thực tiễn non trẻ của họ. Họ làm việc sát bên nhau mỗi ngày với những cái láptóp của họ tại phòng ăn của họ, tìm kiếm qua các dĩa floppy và trên mạng Nét, lần mòn đầu mối về cuộc sống bí ẩn của cha họ — lắm lúc cũng gặp trở ngại về ngôn ngữ. Cả hai nói được tiếng Việt, nhưng không thể đọc thông thạo lắm.
Sự gần gũi gia đình ngày một gắn bó thêm. Biên và Viên thay phiên nhau nấu nướng, để trợ phụ bà mẹ của họ, và giúp đưa và đón cậu em út của họ, Niên, đến và từ trường. Họ không giấu giếm gì với cậu trai út để tóc giống Beatles Niên hết, mọi lần họp mặt đều luôn bao gồm cậu nhỏ. Bà Tiên ngủ chung giường với cậu út hầu giúp cậu cảm thấy an toàn.
Bà và chồng bà ít khi thảo luận về chính trị nhiều; bà không quan tâm như ông ta, bà Tiên Jane, 43 tuổi, nói, người có dáng hình thon và nhìn rất trẻ, với mái tóc đen uốn dài. Bà có lẽ sẽ ngăn chận ông, nếu bà biết những việc làm của ông. Nhưng bà không giận ông ta về việc giữ công việc của ông một cách bí mật. Bà chỉ rất muốn có thể chia sẻ mọi chuyện với ông, hòng hiểu biết thêm, bà Tiên Jane tâm sự, một chuyên viên kỷ thuật cho công ty viễn thông satellite. Phần lớn thân nhân gia đình của ông Đỗ tại Việt Nam không biết là ông bị giam giữ hầu như trong thời gian ông ngồi tù. “Chúng tôi không muốn đem đến sự gánh nặng [cho họ],” cô em gái Đỗ Ivy của ông nói, hiện sinh sống tại bang Texas .
Cho đến tháng Chín, gia đình ông nhận được sự chiếu cố nơi giới báo chí truyền thông và giới chức trách Hoa Kỳ. Tuy nhiên vào lúc ban đầu gia đình ĐỗBùi cố tránh phát biểu bất cứ điều gì mà có thể làm mờ đi về sự giam cầm của cha họ, họ sớm nhận hiểu rõ là sự việc của gia đình họ được đáng quan tâm và có thể giúp xúc tiến sự hổ trợ từ công luận.
Gia đình ông ta tham dự buổi họp mặt tại San Jose và Hạt Cam và bà Tiên Jane phát biểu trước buổi điều trần do Quốc hội Nhân quyền đảm trách tại Hoa Thịnh Đốn.
Chính quyền Hoa Kỳ đã tiêu dùng bao nhiêu triệu, công khai lẫn bí mật, cho việc cổ võ thể chế dân chủ, hổ trợ những nhà đối kháng và gắng sức thay đổi nhiều chế độ trên toàn thế giới, những chuyên gia về chính sách ngoại giao tiết lộ như vậy.
Tuy nhiên, Việt Nam hiện thời không thể hiện sự thách đố về an ninh và không phải thù địch đối với Hoa Kỳ. Sự giao thương song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đạt được US$7,8 tỷ trong năm 2005, nhiều hơn kể từ US$800 triệu trong năm 2001, khi sự thỏa hiệp giao thương bắt đầu mang hiệu lực.
Các cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam và tiêu chuẩn đời sống ngày càng cao cũng đã giảm bớt sự kiểm soát của Cộng sản đối với cuộc sống hằng ngày, bởi vì chính quyền đang theo đuổi nhiều mối quan hệ kinh tế đa phương với thế giới bên ngoài. Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, viết tắc là (WTO), và như vậy, sẽ đòi hỏi giảm thấp các chướng ngại về giao thương và những trợ cấp cho những sản phẩm của nó. Muốn được những ưu tiên của các loại thuế thấp, Hoa Kỳ phải cần thiếp lập các mối quan hệ thương mại bình thường.
Tháng vừa qua, các lãnh đạo của Hạ viện Đảng Cộng hòa ngưng chận một dự luật đối với sự giao thương bình thường với Việt Nam, hoãn lại cuộc bỏ phiếu cho đến tháng Mười Hai sau khi một tiêu chuẩn bị thất bại để thông qua vì đòi hỏi với tỷ lệ hai-phần-ba số phiếu cho việc cần thiết của quy chế — ngay trước phút chuyến thăm viếng Hà Nội của tổng thống Bush về việc hội nghị APEC.
Ông Đỗ nói là ông không được sự hổ trợ từ phía chính quyền Hoa Kỳ, nhưng khi ông bị giam cầm, họ vận động cho sự phóng thích của ông. Bà Dân biểu Zoe Lofgren, thuộc Đảng Dân chủ ở San Jose, nhiệt tình ủng hộ bản chất chính nghĩa nơi ông, cũng như Hội đồng Thành phố của San Jose, ông Thống đốc bang Cali Arnold Schwarzenegger và nhiều đoàn thể nhân quyền. Ông Bộ trưởng Ngân quỹ Hoa Kỳ Henry Paulson có nói chuyện với bộ trưởng tài chánh Việt Nam liên quan đến sự kiện của ông Đỗ, trong lúc hai người gặp mặt tại Singapore cho một hội nghị kinh tế Á Châu, theo lời bà Lofgren, người đã phối hợp các nổ lực nhằm bảm đảm sự phóng thích của ông. Maury Harty, phụ tá bộ trưởng ngoại giao cho Cơ quan Giao thiệp Lãnh sự, đã gặp giới viên chức của Bộ Pháp lý trong lúc viếng thăm Việt Nam. Công ty Applied Materials, nơi ông làm, cũng đã được giới vận-động-hành-lang của họ nói chuyện qua-phôn với nhiều nghị viện quốc hội, từ đó họ liên hệ với Bộ Ngoại giao và Toà Lãnh Sự Việt Nam .
“Chính quyền Việt Nam hiểu được bản thông điệp này là họ đã làm phương hại đến mối quan hệ thương mại bình thường bền vững,” bà Lofgren phát biểu. “Vị trí của họ không thể giữ vững được.”
Vào ngày thứ 38 giam cầm, quản giáo trại gọi ông Đỗ ra cho buổi làm việc ban sáng. Họ bắt ông phải thừa nhận ông là kẻ khủng bố, một cáo tội mà ông vẫn phủ nhận. Họ cho ông về lại phòng giam và khoảng một giờ sau, họ dẫn ông đi khám sức khỏe, lần đầu tiên khi ông vào tù.
Công an quay phim và chụp hình buổi khám sức khỏe của ông, ông Đỗ nói, ông suy đoán là giới thẩm quyền sẽ dùng các đoạn phim đó cho việc tuyên truyền, hoặc chứng minh với công luận, gia đình rằng là ông vẫn còn sống.
Ông trở lại phòng giam sau vài tiếng đồng hồ, khi công an nói ông nên thu xếp đồ đạc áo quần của ông bởi vì ông phải chuyển đi qua phòng giam khác. Nhưng đến lúc họ ra lệnh cho ông phải thay áo quần thường phục — quần jean và áo thun vàng Eddie Bauer — ông nhận biết là ông sẽ được phóng thích.
Giới cầm quyền đưa nhanh ông ra phi trường, nơi mà ông gặp nhân viên lãnh sự Hoa Kỳ, họ đã gọi phôn cho gia đình ông và đứng đợi với ông để chắc chắn là ông an toàn cho đến khi ông lên máy bay với chuyến bay chiều vào ngày 21 tháng Chín.
Sau vài phút máy bay cất cánh, ông dùng phôn di động của ông để gọi cho bà Tiên Jane. Ông trào nước mắt. Ông muốn được gặp gia đình ông, ông nói.
Sau hai mươi-ba tiếng — và trong sự kỳ diệu của ranh giới Ngày giờ Quốc tế — ước vọng của ông đã đạt được trong cùng ngày.
Vợ ông và con cái chạy về hướng ông Đỗ khi ông bước ra khỏi cổng tại Phi trường Quốc tế San Francisco. Vợ ông qùi xuống và ôm lấy ông.
Vài chục người ủng hộ cũng vẫy chào với những lá cờ Hoa Kỳ và Nam Việt Nam, cầm những đoá bông hoa và cầm các bảng chào đón, trong đó có ông Ngô Diễm, một lãnh đạo trong cộng đồng.
“Tôi rất hãnh diện ông ta là bạn tôi. Mỗi người Việt là nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản,” ông Ngô nói, người quen biết ông Đỗ khi con cái của ông theo học trường Việt tại địa phương. Ông Ngô thường đọc những bài viết của “Trần Nam,” nhưng không biết tác giả của chúng là cùng một người cho đến khi ông Đỗ bị bắt. “Anh ta trẻ trung và hăng say, một người yêu nước. Anh ta rất dũng cảm.”
Đám đông tại phi trường đã báo hiệu cho ông Đỗ là lần đầu tiên ông đã trở thành một nhân vật của công chúng, một anh hùng của cộng đồng — những hoạt động nơi ông không còn trong bí ẩn nữa.
“Không ai biết tôi hết. Đó là cách tôi làm,” ông Đỗ nói, không thoải mái với sự chú ý. “Nay mọi người biết tôi, và tôi phải chấp nhận thôi. Đời tôi nay thật sự đảo ngược rồi.”
Ông Đỗ mất hơn 9 kg trong sự thử thách này, nghỉ ngơi được vài tuần đầu tại nhà. Tuy ông đã có nhiều cuộc phỏng vấn, hiểu rằng 15 phút tiếng tăm của ông — và một giai đoạn nổi bật về Việt Nam — có thể sớm kết thúc.
Ông tiếp tục công việc vận động đòi phóng thích hai đảng viên lãnh đạo Đảng DCND bị bắt trong tháng Bảy, cùng với bốn đảng viên khác cũng đang bị giam cầm. Ông đã đi làm trở lại vào cuối tháng Mười.
Ngay sau khi ông trở về, ông Đỗ đã bắt đầu gởi những bài viết mang tên thật của ông, với sự phụ giúp của con cái ông, những người gôm được nhiều mối liên hệ trong lúc vận động cho sự trả tự do của ông. Ông Đỗ biết là ông sẽ không thể trở về thăm Việt Nam được dưới chế độ hiện thời. Một lần nữa, ông lại bị cắt đứt với thân nhân gia đình tại Việt Nam.
“Nó cũng tương tự như mất một phần của cuộc đời bạn,” ông Đỗ nói, ông mơ ước sẽ được nghỉ hưu tại Việt Nam. “Tôi phải làm việc tích cực hơn nếu tôi muốn trở về Việt Nam.”
* Vanessa Hua, phóng viên báo San Francisco Chronicle, đã nhận được giải thưởng báo chí AAJA cho bài viết về nhà đối kháng Đỗ Thành Công, một công dân Mỹ gốc Việt đang sống tại San Jose đã bị cầm tù tại Việt Nam năm 2006. Câu chuyện viết ngày 10 tháng 12, 2006, về cuộc bắt bớ, cầm tù, và được thả ra của ông Công nhờ sự vận động của gia đình và của cả cộng đồng tại Hoa Kỳ, trong đó có bà dân biểu Zoe Lofgren và Thống Đốc California Arnold Schwarzenegger.
* Người Tù Cô Đơn
Đêm nghe mưa trong tù Ngồi đếm lá thu bay Đêm nghe mưa trong tù Buồn nát những cơn say
Sao đi mãi không về Để em ngóng em trông Đêm nghe mưa trong tù Lệ ai rớt thành giòng
Người tù ngồi cô đơn Thân lạnh lùng Đêm chập chùng
Ngưòi tù ngồi bơ vơ Mưa mịt mùng Xa nghìn trùng
Người tù ngồi nơi đây Chôn cuộc tình Theo đời mình
4 Phan Đăng Lưu
20/8/06
———
Prisoner Lonely
Night is falling/I am here in jail, listening to the rain Out There somewhere/Leaves are falling/Killing my soul slowly
Why am I not home/Why am I not There/Night is falling I am here in jail, listening to the rain Out There somewhere/One is crying There
I am here Prisoner lonely, cold in a far away night Prisoner stripped, rain in a forever good bye Prisoner trapped, love and life leave me
Tran Nam
Phan Dang Luu’s Prison
August 20, 2006

Lưu trữ

Tự điển



Tự điển Việt Nam
đã được bổ sung những ý nghĩa "chính thức"