Kỳ Duyên
Theo blog Quê Choa
Nước mắt của nhân dân, là khóc cho bi kịch một quốc gia- khó phát triển.
I- Tự do là trạng thái tự nhiên và giá trị sống tuyệt vời nhất của con người trong xã hội. Nhưng có những con người, cái giá tự do buộc phải trả quá đắt. Mà trường hợp và số phận của tù nhân Nguyễn Thanh Chấn (Việt Yên, Bắc Giang), vừa được tạm tha, sau 10 năm bóc lịch oan trong tù với cái “án giết người” không gây ra, khiến cả xã hội chấn động mạnh, là một minh chứng buồn.
I- Tự do là trạng thái tự nhiên và giá trị sống tuyệt vời nhất của con người trong xã hội. Nhưng có những con người, cái giá tự do buộc phải trả quá đắt. Mà trường hợp và số phận của tù nhân Nguyễn Thanh Chấn (Việt Yên, Bắc Giang), vừa được tạm tha, sau 10 năm bóc lịch oan trong tù với cái “án giết người” không gây ra, khiến cả xã hội chấn động mạnh, là một minh chứng buồn.
Sự tự do đó không phải được đánh đổi bằng tài năng điều tra, trách
nhiệm công tâm của cơ quan chức năng hay tòa án, mà bằng sự “điều tra’
tận tụy, kiên nhẫn vô bờ bến của người vợ ông bỗng trở thành “thám tử
tư” bất đắc dĩ, dẫn đến sự hối thúc và hung thủ giết người phải ra thú
tội trước cơ quan chức năng- Lý Nguyễn Chung, sau đúng 10 năm lẩn trốn.
Thật ra, tư pháp của bất cứ quốc gia văn minh nào cũng vẫn có những
án oan sai “chết người”. Thế giới từng ghi nhận những án oan chấn động-
của Darryl Hunt, Thomas Kennedy, Dewey Bozella (Mỹ), Arthur Allan Thomas
(New Zealand), Donald Marshall, Jr (Canada)… , những số phận người bình
thường bỗng thành nổi tiếng một cách đắng cay.
Vì thế mà nhân gian luôn tồn tại những bi kịch.
Nhưng Nguyễn Thanh Chấn chỉ là một nông dân ở Bắc Giang. Cái án oan
khiên bất ngờ rơi xuống đầu ông chỉ có mấy tiếng, trong buổi tối định
mệnh ngày 15/8/2003, khi ông đi lấy nước, khi người ta phát hiện người
phụ nữ đơn thân tên là H. cùng thôn Me với ông này, bị giết hại. Nguyễn
Thanh Chấn bị khép tội với bản án chết người- “giết người”- tù chung
thân.
Bị kịch của người nông dân trong thời hiện đại “sống và làm việc theo
pháp luật”, có nỗi bi thảm riêng của nó. Đâu phải chỉ có Nguyễn Thanh
Chấn, kéo theo là sự thiệt hại về kinh tế của một gia đình nghèo, là nỗi
đau của người vợ có chồng mang tiếng giết người, là nỗi tổn thương và
tủi hổ của những đứa trẻ con cái ông, trong ánh mắt kỳ thị của cộng
đồng, làng xóm, bạn bè sau lũy tre làng.
Có điều, bi kịch đó đến thời điểm này, khi mọi việc vỡ lở tung tóe,
người ta mới thấy hàng loạt điều “phi pháp luật” của cơ quan thực hiện
pháp luật, có thẩm quyền kết án … oan sai, khiến xã hội bàng hoàng, bức
xúc.
Ai là những nhân vật điều tra viên đã “có tài” ép cung, đẩy Nguyễn
Thanh Chấn đến bước đường buộc phải nhận cái tội mình không mắc? Tệ đến
mức (theo lời ông Chấn) hướng dẫn ông này khai báo sự việc, hướng dẫn vẽ
sơ đồ hiện trường, và luyện tập thuần thục để thực nghiệm? Động cơ nào
khiến họ thản nhiên làm một việc “dựng chuyện” thất đức đến vậy, và
nghiệp vụ “phản pháp luật” đó, thực chất, còn mang tính chất “lừa đảo”
cả tòa án?
Vì sao tòa án không đủ chứng cứ, nhân chứng, ngoài hai dấu vết chân
gần giống, nhưng cả hai phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm vẫn thản nhiên kết
luận y án “giết người”? Phải chăng, ngoài sự non yếu và lỏng lẻo nghiệp
vụ, còn có tâm lý nghề nghiệp méo mó “thà tù nhầm hơn … bỏ sót”, hệt bác
sĩ, nhìn đâu cũng thấy vi trùng?
Vì sao, người vợ ông 10 năm kêu oan cho chồng. Nhưng những lá đơn
khiếu nại của người đàn bà khốn khổ vẫn rơi vào trong sự im lặng đáng
sợ? Lá đơn đó, liệu có là một trong số không biết bao nhiêu lá đơn có số
phận hẩm hiu trong thời “bạn hỏi, chúng tôi … không thèm trả lời”?
Điều gì đã “bịt mắt” Thần Công lý, “bịt mắt”các cơ quan chức năng tư
pháp ở một vụ án hình sự: Sự hạn chế về nghiệp vụ, sự vô lương tâm trong
hoạt động điều tra, hay tâm lý hành nghề pháp luật thành chai sạn, dửng
dưng trước nỗi đau, và số phận một con người nhân danh công lý?
Để rồi sau 10 năm, cuối cùng, bi kịch mang tên Nguyễn Thanh Chấn cũng
được mở nút, khi thủ phạm chính xuất hiện, với màn diễn có hậu- Viện
KSNDTC công bố quyết định kháng nghị tái thẩm, tạm đình chỉ thi hành án
do “xuất hiện tình tiết mới làm thay đổi bản chất vụ án”, trả tự do cho
Nguyễn Thanh Chấn.
Dù vậy, bi kịch Nguyễn Thanh Chấn có vẻ chưa thể kết thúc. Khi ông Vũ
Đức Khiển, nguyên chủ nhiệm UBPL của QH khẳng định, kháng nghị và xét
xử tái thẩm là sai. Bởi điều tra sai, kết tội sai thì bây giờ phải minh
oan cho người vô tội. Phải giám đốc thẩm để tuyên hủy bản án sơ thẩm,
phúc thẩm, chứ không phải vì một kẻ ra đầu thú nhận tội mà coi đó là
tình tiết mới.
Cũng theo ông Vũ Đức Khiển, nếu đưa ra tái thẩm, là các cơ quan tố
tụng đang cố tình lấp liếm đi cái sai của mình trước đó, dễ bề phủi
trách nhiệm đã gây oan cho ông Chấn (Lao động, ngày 06/11). Có lẽ, chỉ
những người trong ngành tư pháp, mới hiểu bản chất của vấn đề?
Có điều, khi bi kịch Nguyễn Thanh Chấn mới mở nút, thì những phát
ngôn ấn tượng của hai ông Nguyễn Minh Năng (nguyên chủ tọa phiên xét xử
sơ thẩm năm 2004), Trần Văn Duyên (nguyên thẩm phán TAND tỉnh Bắc Giang,
thẩm phán phiên xét xử sơ thẩm) những quan chức tòa án từng có quyền
sinh quyền sát với số phận ông Nguyễn Thanh Chấn, cho thấy họ vô cảm, và
rũ sạch trách nhiệm đến chừng nào:
Giờ bị cáo oan sai thì trách nhiệm là do QH chứ biết sao được? Và:
Chúng tôi xử sơ thẩm mà cấp phúc thẩm y án thì chứng tỏ có đủ căn cứ kết
tội bị cáo về tội giết người. Cấp phúc thẩm tuyên y án có nghĩa chúng
tôi xử đúng rồi và chúng tôi cũng không có trách nhiệm gì. Giờ vụ án có
sai thì trách nhiệm thuộc về cấp phúc thẩm của tòa tối cao.
Không hiểu QH biến thành… tòa án tự lúc nào? Không hiểu, khi “đá bóng
trách nhiệm” lên cấp phúc thẩm, các vị có nhớ đến câu dân gian Con nó
lú có chú nó khôn. Dường như ở đây, con lú, chú nó cũng lú theo?
Cũng hệt như các quan chức đó, những điều tra viên đã “ép cung” năm
xưa, giờ không nhận, và họ cũng quên hết những gì đã làm với ông Nguyễn
Thanh Chấn. Nhưng chắc chắn, vụ án đáng xấu hổ này, sẽ đi vào lịch sử tư
pháp, khó quên
Chắc chắn, vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn không phải là vụ duy nhất,
không phải vụ đầu tiên và cũng chưa phải vụ cuối cùng. Rồi đây, cơ quan
chức năng sẽ phải có chính sách đền bồi thiệt hại cả danh dự lẫn kinh tế
cho ông này.
Nhưng bi kịch của một người nông dân như ông, cho thấy một bi kịch
khác của ngành tư pháp, trong vai trò công cụ quản lý và xét xử tội
phạm, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự xã hội, nhưng lại bị “bịt mắt”
bởi những điều dốt nát, kém cỏi, vô trách nhiệm, thậm chí nhẫn tâm, vô
tình đứng về phía cái Ác.
II- Bi kịch Thần Công lý bị “bịt mắt” trong vụ án
Nguyễn Thanh Chấn, trở nên chua chát hơn, nếu đặt vụ án đó trong bối
cảnh công cuộc diệt trừ tham nhũng hiện nay. Ở công cuộc đó hình như
Thần Công lý còn … nhắm tịt mắt?
Đó không phải là hình ảnh ví von văn chương, mà là một nghịch cảnh
phũ phàng. Nếu như tham nhũng được gọi đích danh bằng những ngôn từ,
mạnh mẽ bao nhiêu, búa rìu bao nhiêu- “giặc nội xâm”, “quốc nạn”, “vấn
nạn”, thì kết quả phòng chống, diệt trừ tham nhũng, thương thay, lại yểu
mệnh bấy nhiêu: Giặc tham nhũng chưa bị sát thương; Phòng chống tham
nhũng mới bắt được sâu nhỏ; Đánh tham nhũng mới mơn man bên ngoài; Chống
tham nhũng kiểu “dội nước vội vàng”.. v.v và v.v…
Trong khi phòng chống tham nhũng, về hình thức, có đầy đủ từ bộ máy
từ TƯ đến địa phương, có đầy đủ các văn bản luật, các quy định, chế tài
về sự công khai minh bạch tài sản, có đầy đủ cả hệ thống bảo vệ pháp
luật- cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Có điều, sự “vô
hiệu hóa” của chiến dịch rầm rộ này ngay từ đầu, có vẻ như đã được báo
trước.
Bởi sự bất lực trước quyền lực của các “nhóm lợi ích” thâu tóm, chi
phối, từ những người đứng đầu các công ty, tập đoàn kinh tế Nhà nước.
Những vị này, khi lâm nạn, cũng vẫn chỉ là “con dê tế thần” trước thanh
thiên bạch nhật. Rút cục, “dê tế thần” bị mổ xẻ, bị mất hết cả danh dự
lẫn sự nghiệp, nhưng kẻ chăn dắt thì nhởn nhơ, vô can với đôi tay… sạch.
Bởi sự “nhờn” với tham nhũng, thái độ cam chịu chung sống với tham
nhũng một cách vô cảm của người dân, là kết quả tất nhiên của một tâm lý
yếm thế, mất niềm tin trước những giá trị đen trắng đảo lộn trắng trợn
trong xã hội: Người ngay sợ kẻ gian, cái tốt sợ cái xấu, người còng làm
cho thằng ngay ăn….
Bởi sự ràng buộc trách nhiệm với người đứng đầu cao nhất một đơn vị,
hóa ra không kích thích được ý thức trách nhiệm cao trong quản lý của
họ. Vô tình “ràng buộc” họ trở thành người sẵn sàng bao che những bất ổn
về tham nhũng của đơn vị mình, che dấu tội lỗi cho kẻ tham nhũng, nhân
danh “bảo đảm sự bình ổn” của tập thể. Mà cái gốc của nó là bệnh thành
tích.
Đặc biệt, bởi quy định công khai, minh bạch tài sản của quan chức chỉ
mang tính hình thức- nói vậy không phải vậy- đã gây hoài nghi sâu sắc
trong lòng nhân dân, nhân danh mỹ từ “bảo vệ uy tín cán bộ”, hệt câu
chuyện ngụ ngôn “chiếc áo của hoàng đế”, trong khi có uy tín nào thực
chất hơn phẩm cách trong sạch, vì nước, vì dân?
Sự “vô hiệu hóa”, mũ ni che tai, nhắm tịt mắt trước giặc tham nhũng
giờ đây quá tinh vi, lan đến cả nghị trường. Khi mà chính đại biểu QH
mỗi lần ra họp QH cũng được căn dặn rất kỹ- không phát biểu về tham
nhũng, bởi nếu còn cơ chế xin- cho, thì mình xin ai cho (Tuổi trẻ, ngày
07/11). Đại biểu QH đại diện cho quyền lợi của dân, mà còn đành ngoảnh
mặt làm ngơ thì đủ biết, tham nhũng có gương mặt lưu manh, ma giáo thế
nào?
Và điều này mới quan trọng, khi chính vị Chủ tịch QH phải đặt câu hỏi
nghi vấn: Liệu có tiêu cực, bao che trong các cơ quan bảo vệ pháp luật,
trong lực lượng phòng chống tham nhũng không? (VietNamNet, ngày 07/11).
Ngành tư pháp liệu có thể trả lời câu hỏi này được không?
Dư luận xã hội còn chưa quên hiện tượng UB Tư pháp của QH đi giám sát một số đia phương, có tỉnh 02 năm chỉ xử được 09 bị cáo về tội tham nhũng, thì đã có 08 bị cáo hưởng án treo?
Không ít trường hợp, vụ to làm thành nhỏ, vụ nhỏ thành “án treo. Chợt nhớ tới nạn nhân Nguyễn Thanh Chấn khốn khổ, bị kết án chung thân, và phải tù tới 10 năm mới được giải oan, chỉ vì một cái tội không mắc. Vì sao, cùng kiếp người, trước Thần Công lý, lại nhất bên quan tham, bét bên dân lành, bất công như vậy?
Dư luận xã hội còn chưa quên hiện tượng UB Tư pháp của QH đi giám sát một số đia phương, có tỉnh 02 năm chỉ xử được 09 bị cáo về tội tham nhũng, thì đã có 08 bị cáo hưởng án treo?
Không ít trường hợp, vụ to làm thành nhỏ, vụ nhỏ thành “án treo. Chợt nhớ tới nạn nhân Nguyễn Thanh Chấn khốn khổ, bị kết án chung thân, và phải tù tới 10 năm mới được giải oan, chỉ vì một cái tội không mắc. Vì sao, cùng kiếp người, trước Thần Công lý, lại nhất bên quan tham, bét bên dân lành, bất công như vậy?
Điều này càng cần đặt ra, nếu biết, nhiều án tham nhũng lớn bị “tắc”
vì giám định tư pháp. Bởi kết luận giám định tư pháp rất quan trọng, cho
việc xét xử đúng người đúng tội.
Vậy nhưng, trong một số trường hợp, kết luận giám định chưa bảo đảm,
còn chung chung, mập mờ, không rõ ràng, không khẳng định rõ đúng sai và
có dấu hiệu né tránh khiến cho các cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng,
khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án (Chính phủ.vn, ngày 07/11).
Đây là yếu kém về kỹ thuật giám định, hay còn nguyên nhân nào khiến các
vụ án tham nhũng như … ngậm hột thị?
Hậu quả của hiện tượng “chạy” giám định tư pháp để thoát tội, dẫn đến
có trường hợp phải đình chỉ vụ án. Khi đó, sẽ có người ngoài cười nụ… ,
còn có ai khóc thầm không, thì chỉ có người dân đóng thuế là biết rõ.
III- Bi kịch Nguyễn Thanh Chấn, bi hài kịch chống
tham nhũng luẩn quẩn loanh quanh cho thấy, muốn chống “giặc nội xâm”
triệt để, muốn sửa chữa các khuyết tật của hệ thống tư pháp, mà vụ án
oan sai 10 năm ngồi tù của ông này là một lỗ hổng hổ thẹn, cho thấy cải
cách tư pháp phải được quyết liệt thực hiện, nếu muốn người dân lấy lại
niềm tin đã mất. Nhưng cải cách tư pháp chỉ có hiệu quả, một khi gắn
liền với cải cách thể chế chính trị, cải cách cơ chế quản lý kinh tế- xã
hội, xây dựng một nền quản trị quốc gia văn minh, tiến bộ.
Đó là một thách thức lớn, cũng là một cơ hội lớn. Nắm bắt hay bỏ qua?
Đó là một thách thức lớn, cũng là một cơ hội lớn. Nắm bắt hay bỏ qua?
Không phải ngẫu nhiên, Ts. Nguyễn Sĩ Dũng, trong trả lời phỏng vấn
của báo Tuổi trẻ, ngày 04/11 khẳng định: Đổi mới là mệnh lệnh thời đại!
Để chúng ta thiết kế nền quản trị quốc gia đáp ứng yêu cầu thời đại, tạo
ra xung lực mới cho sự phát triển.
…Chúng ta đang sống trong một thế giới đã thay đổi. Sống theo
cách cũ, vì vậy sẽ không có tương lai. Điều đáng lưu ý là
không chỉ thế giới đã rất khác, mà những người dân cũng đã
rất khác. Bởi hàng chục triệu người dân đã hội nhập với thế
giới hiện đại nhanh chóng và hiệu quả hơn so với nhiều thiết
chế đang vận hành nền quản trị quốc gia của chúng ta.
Cái thế giới đã thay đổi đó, đang thách thức chính nhận thức, tư duy
xã hội, thách thức trí tuệ, bản lĩnh của cả một dân tộc- cập nhật để
phát triển hay chối bỏ, mặc cho dân tộc tụt hậu? Hội nhập văn minh hay
mãi mãi ở “cái bẫy trung bình” không chỉ là chất lượng sống, mà cả văn
minh, văn hóa nhân loại? Muốn thế, một nền tảng, một cơ chế quản lý theo
kiểu pháp trị phải thực sự được thượng tôn, định hướng và điều chỉnh
mọi quan hệ xã hội.
Không phải ngẫu nhiên, đại biểu QH Trương Trọng Nghĩa đã phải thẳng
thắn: Hậu thế sẽ đánh giá Quốc hội khóa XIII làm gì để thúc đẩy chứ
không cản trở sự phát triển của dân tộc.
Nếu không có những giải pháp toàn diện và đột phá thì đất nước không thể chuyển biến tích cực một cách căn bản… Công cuộc đổi mới thể chế và luật pháp đã chậm bước so với nhu cầu của đất nước.
Nếu không có những giải pháp toàn diện và đột phá thì đất nước không thể chuyển biến tích cực một cách căn bản… Công cuộc đổi mới thể chế và luật pháp đã chậm bước so với nhu cầu của đất nước.
Khi đọc bài báo đầu tiên về vụ án Nguyễn Thanh Chấn, nhìn vòng vây
yêu thương, tràn đầy nước mắt của người dân vô tội đón người thân tù tội
trở về, nhiều người đã cay mắt. Nước mắt khóc cho bi kịch một cá nhân.
Nhưng nếu quốc nạn tham nhũng cứ mãi ngang nhiên thách thức, trước
nền tư pháp lạc hậu, yếu kém đầy khuyết tật, trước một thể chế, cơ chế
quản lý già nua tư duy, xơ cứng nhận thức, thì nước mắt của nhân dân, là
khóc cho bi kịch một quốc gia- khó phát triển.
Vâng, hậu thế sẽ đánh giá cha ông họ- hôm nay.