Thứ Năm, 25 tháng 3, 2010

BS. DƯƠNG QUỲNH HOA

(Bài này chép từ điện thư)


Một bước đi sai, nghìn bước hận
Lỗi Người (?) hay bỏi phận mình oái oăm!

Tố Hữu

Một bài học: BS Dương Quỳnh Hoa
Tiếc Cho Một Người Lầm Đường Lạc Lối Đã Nằm Xuống
(Thân tặng tất cả những người Việt còn có tấm lòng yêu quê hương).

Lời nói đầu.

-Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) nằm xuống ngày thứ bảy 25–2–2006 tại Sài Gòn, và được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.
Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trãi và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất "chuyên chính vô sản" của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam
BS. DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN.

Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô "bưng" qua ngõ Ba Thu –Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.

Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS.

Nói về GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô "bưng" năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do "uy tín" chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đở theo.

Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bõ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

Ô.B DQH và Đảng Cộng sản VN

Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vở lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ.

Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần "tiến bộ", Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau: "Các "toi" muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với "cách mạng" mà "góp ý" với đảng".

Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàng không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên.. không đi.

Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được "đặt để" vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ.

Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định…

Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ: "Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả".

Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được "phép" nói, Bà nhận định rằng: Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước.

Trong thời gian nầy Bà tuyên bố: "Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân" Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đở của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc.

Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được "yêu cầu" phải xin lại viện trợ vì… nhân dân (của Đảng!).

Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội:

"Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%."

Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳng Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vưà kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là: "Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn". Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói:" Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại".

BS DQH và Vụ kiện Da Cam

Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.

Có lẽ vì "mật ước" Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:

- Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;

- Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;

- GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;

- Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng: "Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp".

Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng.

Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:

- Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;

- Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;

- Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);

- Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và

- Những người cùng cảnh ngộ.

Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để

(1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và

(2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và

(3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề.

Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi.

(Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).

Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.

Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đần bị chứng ngứa ngáy ngoài da.

Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ.

Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường.

Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẩu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).

Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?

Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004.

Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì "người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

"Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam." Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Uùc không bao giờ xảy ra.

Bà còn thêm rằng: "Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt)."

Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện. Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bõ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.

Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quảng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay "cải sửa" chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói "đóng góp" đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm "bí mật quốc gia" theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003. Như vậy, dù là "cùng là máu đỏ Việt Nam" nhưng phải là máu đã "cưu mang" một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta, những người Việt trong và ngòai nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và d dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền.

Tổ quốc là đất nước chung - Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.

Ghi chú: Ngày 03/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đấu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.

Mong tất cả trí thức Việt Nam, đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

TS.Mai Thanh Truyết

Thứ Tư, 24 tháng 3, 2010

Thứ Hai, 22 tháng 3, 2010

Đảng ?

Độ rày bận quá không thể blog thường xuyên được hơn nữa có khi đọc những bản tin cũng làm cho đầu óc đâm ra chán nản hết ý kiến luôn, cỡ như cái bản tin sau đọc từ tuần trước làm khi không giận luôn cái blog chẳng muốn viết, viết làm chi cái chuyện mọi người dân khi biết họ đều tức chỉ có mấy ông lãnh đạo kiểu này, làm ăn tắc trách, bán nước rồi giao trách nhiệm cho thế hệ sau, mà cũng chưa phải thế hệ sau, mà giao luôn quyền cho người "lạ" luôn. Sao họ lại có thể là người lãnh đạo được nhỉ, ai bầu cho họ và khi nào thì người dân có thể truất phế họ.  Ở xứ tôi ở, nguyên câu nói của ông "50 năm nữa, ai làm thì người đó quản lý" lên báo hôm trước thì hôm sau chắc là ông sẽ bị kiện, dân sẽ tổ chức bầu cử để bãi nhiệm ông ta ngay lập tức thôi.  

Dù sao thì lâu lâu đọc những blog thâm thúy của Người Buôn Gió cũng còn thấy phấn khởi, như bài blog sau của ông nói về "cụ rùa" và nhớ cô em bảo có người hỏi thăm, cho rằng viết blog như tôi phải ở trong cái đảng nào đó, xin thưa tôi chẳng ở đảng nào cả, cái bếp của tôi còn lo chưa xong, làm sao tôi lo chuyện đảng, chuyện nước được. Tôi chỉ đọc gì nghĩ gì thì gõ cho vui đôi ba chuyện của người đứng trong bếp tán láo với đời thế thôi.  Chả lẽ người dân bình thường không thể có ý kiến, phải là người của "đảng" mới nói lên ý nghĩ của mình được. Không, tôi thích tự do và đã phải trải qua gian nan để tự hào  rắng tôi đi tìm tự do, cho nên tôi thích nay tôi theo bầu cho người của đảng này, mai tôi bầu cho người của đảng kia.  Tôi có lý do của tôi, có khi bạn có thể bảo tôi là ba phải, cũng ok, nhưng ít nhất tôi chẳng phải bị ép buộc "yêu nước là phải yêu đảng" .

Thứ Bảy, 20 tháng 3, 2010

Nghĩ về ông


Chiều qua trên đường về, đọc tin thi sĩ Hữu Loan đã qua đời, nghe tin ông ra đi trong giấc ngủ nhẹ nhàng.  Nhìn hình ông, thì thấy ông ở cái tuổi đã ngoài 90 mà ông còn những nét cho thấy ngày còn trẻ ông phải là người đàn ông có khuôn mặt thu hút với những nét mà có lẽ ít vẻ Á Châu.  Hàm răng ông cụ đều đặn với nụ cười rộng lượng.  Đọc thơ ông lúc còn bé, và còn bé nên tôi cũng không để ý lắm, chỉ sau này nghe người ta phỏng vấn ông, mới thấy ông thực sự là một người can đảm sống với những nguyên tắc của ông mà không sợ bất cứ đảng quyền nào hết.  Ông đã sống một đời cho tình cho sự nhân hậu, thế mà ông bị trù dập bao nhiêu năm trời, từ một người đàn ông đỗ tú tài Pháp thời ấy giữ cùng lúc 4 chức trong kháng chiến vậy mà ông trở thành người đi đập đá nuôi gia đình trong gian khổ, chỉ vì không tuân phục những điều ác.  Thành một ông cụ "nhà quê" khi ông được mời đi vào Nam diễn thuyết. Lần nghe lời nói của ông trong cuối thập niên 80 thì phải, thấy tội nghiệp ông, một trong những trí thức bị đày ải.  Có lẽ mai đây nhà nước VN mới hết sợ ông? Và có khi lại cho xây nơi tưởng niệm ông? Hay tên ông sẽ là 1 con đường ở Hà Nội, không biết chứng.
Tôi nghĩ ông đã ra đi bình an trong giấc ngủ của ông,  rất bình an!

Thứ Ba, 16 tháng 3, 2010

Đọc báo tháng Ba

Có hai tin vui trong những ngày qua đó là tin Cha Lý được "tạm đình chỉ..tù" để về chữa bệnh.  Không biết nên chúc Cha ra sao, chóng khỏi bệnh để tiếp tục thi hành bản án? Nhưng nghe Cha trả lời phỏng vấn thì tinh thần của Cha vẫn minh mẫn, đó cũng là điều đáng mừng.
Tin thứ hai là đảng Việt Tân đã làm một công việc ngoạn mục là phát áo phát mũ nêu cao tinh thần bảo vệ Hoàng Sa - Trường Sa của VN ngay tại Hồ Gươm, Hà Nội. Chỉ mong những người của đảng không bị phát hiện để bị vào tù, họ là những người rất trẻ, xin chúc mừng tinh thần của người VN và hành động can đảm của họ.

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2010

Cẩm nang đối phó với công an

Dù bạn không hoạt động chính trị, nhưng sống ở một đất nước có quá nhiều bất công mà cảnh sát, công an lại như những "con ma" ám ảnh lên đời sống thường nhật của người dân thì những bài đọc sau đây cũng nên được (in) dùng làm cẩm nang cho mỗi cá nhân ở đất nước Việt.

Ai có dư thì giờ thì nhâm nhi café vơí câu truyện "Hồi ức về nhà tù CS" của tác giả Huỳnh ngọc Tuấn để rút thêm kinh nghiệm thì chắc cũng không phải là uổng phí.

Phản đối National Geographic Society

Nhận email này, nên post lại đây để có nhiều người quan tâm tới VN thì xin góp tay vào.

[Đứng Lên Vì Việt Nam] Phản đối National Geographic Society phát hành bản đồ sai sự thật về Hoàng Sa
By Hoàng Hạc  • Mar 13th, 2010


Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ (National Geographic Society) phát hành bản đồ sai sự thật về Hoàng Sa
Trên website về bản đồ thế giới của tổ chức tiếng tăm của Mỹ đã ghi chú sai sự thật về quần đảo Hoàng Sa là của Trung Quốc. (Hội Địa lý Quốc gia) có trụ sở tại thủ đô Washington của Mỹ lâu nay được coi là một trong những tổ chức khoa học và giáo dục phi lợi nhuận lớn nhất thế giới. Hội này có nhiều tổ chức trực thuộc như kênh truyền hình National Geographic Channel rất nổi tiếng hoặc National Geographic Maps chuyên về bản đồ. Dù là một tổ chức lớn và uy tín như thế, nhưng mới đây, National Geographic Society – cụ thể là tổ chức National Geographic Maps trực thuộc – đã có hành động khinh suất, coi thường lịch sử và công pháp quốc tế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới chủ quyền của Việt Nam.
Trong bộ Bản đồ thế giới được phát hành trên website của tổ chức này tại địa chỉ http://www.natgeomaps.com/worldmaps.html , ở một số bản đồ, National Geographic Society ghi chú tại vị trí quần đảo Hoàng Sa là Xisha Qundao (Tây Sa quần đảo), theo cách định danh của người Trung Quốc, kèm chú thích “China” (Trung Quốc) ngay phía dưới. Ở một số bản đồ khác cũng nằm trong bộ trên, National Geographic Society ghi Paracel Is. tại vị trí quần đảo Hoàng Sa với chú thích bên dưới là “China”.
Quần đảo Hoàng Sa, được biết đến với tên tiếng Anh là Paracel Islands, nằm ở biển Đông là một phần không thể tách rời của VN. VN có đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý về chủ quyền của mình đối với quần đảo này. Việc Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm quần đảo vào năm 1974 là hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của VN và bất chấp luật pháp quốc tế. Việc Trung Quốc kiểm soát quần đảo này sau khi chiếm được là một hành động cần bị lên án.
Các học giả và tổ chức quốc tế uy tín hầu hết đều biết những sự thật lịch sử nói trên, nên khi đề cập tới Hoàng Sa họ luôn giữ một thái độ khách quan khoa học. Tiếc rằng National Geographic Society, cũng là một tổ chức rất lớn, lại không tôn trọng tính khách quan khoa học trong bộ bản đồ nói trên. Bằng việc ghi chú quần đảo Hoàng Sa (hay Paracel Islands trong tiếng Anh) là Xisha Qundao và chú thích “Trung Quốc” bên dưới, tổ chức Mỹ này đã dành sự thiên vị của mình cho Trung Quốc, bất chấp các chứng cứ lịch sử, pháp lý. National Geographic Society vô hình trung đã ủng hộ việc một nước sử dụng vũ lực để cưỡng chiếm lãnh thổ của nước khác một cách bất hợp pháp.
Hiện National Geographic Society đang bán bộ bản đồ sai sự thật trên qua mạng với nhiều hình thức và ngôn ngữ khác nhau. Họ cũng phát hành trong ấn phẩm hằng tháng của mình. Điều này có nghĩa sự xuyên tạc của National Geographic Society đối với quần đảo Hoàng Sa của VN sẽ đến với nhiều người đọc khắp thế giới. Những người không am hiểu lịch sử của quần đảo này cũng như bị cái bóng dáng đồ sộ của National Geographic Society đánh lừa sẽ dễ dàng tin rằng Paracel Islands (quần đảo Hoàng Sa) là của Trung Quốc, một điều hoàn toàn sai sự thật…
Một lần nữa, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng việc National Geographic Society phát hành bộ bản đồ nói trên là hành vi xuyên tạc lịch sử, bất chấp công lý, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ VN. Lẽ ra, với uy tín của mình, với tư cách là một tổ chức khoa học – giáo dục lớn, họ cần phải cẩn trọng và khách quan khi cho phát hành những bộ bản đồ như thế.
Đỗ Hùng
———— ——— ——— ——— ——— ——- —— —— —— —— ——-
Chuyện nghiêm trọng về chủ quyền Việt Nam: Bản đồ thế giới ghi Hoàng Sa là của Trung Quốc Chữ “Trung Quốc” tiếp tục xuất hiện ở quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ thế giới
Tạp chí National Geographic Society có đăng bản đồ thế giới trực tuyến, trong đó quần đảo đang tranh chấp Hoàng Sa có chữ “China”. Quỹ Nguyễn Thái Học đã viết thỉnh nguyện thư yêu cầu gỡ xuống.
Mời quý vị bấm vào đây để ký thỉnh nguyện thư yêu cầu National Geographic Society bỏ chữ “China” trên bản đồ.
Nó sẽ dẫn đến hình phía trang nhà có thỉnh nguyện thư với bên dưới . Đây là nội dung bức thư, xin tạm dịch:
Thưa ông Jones:
Chúng tôi viết thư này liên quan đến chữ “Trung Quốc” trên quần đảo đang tranh chấp Hoàng Sa trong bản đồ thế giới trực tuyến do National Geographic Society đăng tải.
Thực tế là các đảo nằm ở biển Đông chưa bao giờ được cộng đồng quốc tế công nhận như là một phần lãnh thổ Trung Quốc.
Qua bức thư này, chúng tôi không có tham vọng thuyết phục quý vị rằng quần đảo Hoàng Sa thuộc về một quốc gia cụ thể. Thay vào đó, chúng tôi yêu cầu quý vị xem xét tình trạng hiện tại của những hòn đảo dựa vào các nguồn tin cậy, nguồn thứ ba để đặt tên cho đúng với các hòn đảo trên bản đồ của quý vị.
Những tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo này vẫn chưa được giải quyết trong gần một thế kỷ qua. Những năm qua, Liên Hiệp Quốc cũng đã nhận được nhiều đơn kiện từ Việt Nam và Trung Quốc liên quan đến các các vấn đề này. Trong thực tế, những đệ trình gần đây nhất là tháng 5 năm 2009 đã được các nước này gửi tới Liên Hợp Quốc. Liên Hiệp Quốc đưa quần đảo Hoàng Sa vào diện “quần đảo tranh chấp” và chưa bao giờ xác nhận quần đảo này thuộc về quốc gia nào.
Chắc chắn rằng National Geographic Society là một nguồn thông tin quan trọng và đáng tin cậy cho nhiều người trên khắp toàn cầu, kể cả các nhà nghiên cứu và học sinh trẻ tuổi.
Vì vậy, để việc ngăn chặn công chúng nhận thông tin sai lạc, chúng tôi kêu gọi quý vị ngay lập tức xem xét lại và sửa đổi, dựa trên tình trạng thực sự của quần đảo Hoàng Sa để phản ánh cả hai quan điểm của cộng đồng quốc tế cũng như chính sách giữ trung lập của National Geographic Society.
Xin cám ơn.
Trân trọng,
Kính thưa quý vị,
Dưới đây là bức Thỉnh Nguyện Thư yêu cầu ông Chủ Bút và Ban Biên Tập nguyệt san National Geographic dẹp bỏ chữ China bên cạnh hai chữ “Paracel Islands” trên bản đồ online của họ
Xin click vào link http://www.natgeomaps.com/world_decorator_zoomify.html?zoomifyImagePath =assets/files/zoomify/re006220 77/re00622077_ 1_img&zoomifyNavigatorVis ible=false để xem bản đồ này.
Kính mời quý vị click vào link dưới đây và theo những bước được hướng dẫn để ký tên vào Thỉnh Nguyện Thư nói trên.
————————————————————————————————–
http://www.petitionspot.com/petitions/ParacelIslands
————————————————————————————————–
Ngoài ra cũng xin quý vị phổ biến Thỉnh Nguyện Thư này đến thân hữu, bạn bè, các diễn đàn Việt ngữ khác v.v…
CSVN có thể muốn dâng đất dâng biển cho Tàu Cộng nhưng chúng ta cương quyết tranh đấu giữ cho chủ quyền của quần đảo này là của Việt Nam.
Trân trọng,
TH Việt
viettran.qld@ gmail.com
——————————————————
Ghi chú của NguoiVietBoston:
Kính mong quý vị lãnh đạo Cộng Đồng, Tổ Chức, Đoàn Thể và đồng hương in lá thư thỉnh nguyện trong website NguoiVietBoston và phổ biến cho tất cả những người mình biết, để họ ký tên và gởi thẳng đến Trụ Sở của The National Geographic Society theo địa chỉ dưới đây:
Mr. Chris Jones, Editor in Chief
The National Geographic Society
1145 17th St, NW
Washington, DC 20036-4688
Tổ chức The National Geographic Society là hội có tầm vóc quốc tế và ảnh hưởng gần như mọi lãnh vực không chỉ trong truyền thông mà cả về giáo dục, sử học, khoa học.
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Removal of the label “China” at the Paracel Islands
Mr. Chris Jones, Editor in Chief
The National Geographic Society
1145 17th St, NW
Washington, DC 20036-4688
nationalgeographic. com/magazine
pressroom@ngs. org
maps@ngs.org
March 10, 2010
Ref: The petition for removal of the label “China” at the Paracel Islands on NGS’s online world map
Dear Mr. Jones:
We are writing this letter concerning the label “China” at the disputed Paracel Islands on the online world map edition published by the National Geographic Society. (*)
The fact is that the islands located in the South China Sea have never been recognized as part of Chinese territory by the international community.
In this letter, we do not have any ambition to convince you the Paracel Islands belong to a specific country. Instead, we are requesting you to review the current status of the islands based on reliable, third-party source for correctly labeling the islands on your map.
The sovereignty disputes over the islands remain unresolved for nearly a century. Over the years, the United Nations have also received many complaints from Vietnam and China regarding these features. In fact, the latest submissions to the United Nations from these countries happened in May 2009. The United Nations have classified the Paracel Islands as “the disputed islands” and have never confirmed them belong to neither country.
It is no doubt that the National Geographic Society is a trusted and reliable source of important information for many people around the globe, including researchers and young students.
Therefore, in preventing the public from being misled, we call upon you to immediately review and change the label based on the true status of the Paracel Islands to reflect both the point of view of the international community as well as the neutral point of view policy of the National Geographic Society. Thank you.
Sincerely yours,
Your name
USEFUL INFORMATION
1. The International Court of Justice of the United Nations has recorded the Paracel Islands as the disputed islands between Vietnam and China.
http://www.munfw.org/archive/45th/icj.htm
2. On May 6, 2009, Vietnam and Malaysia formally filed a joint submission with the United Nations’ Commissions on the Limits of the Continental Shelf to claim their territorial sea, including the Paracel Islands.
http://www.rsis.edu.sg/publications/Perspective/RSIS0652009.pdf
3. On 6 August, 1998, at the request of the Government of Viet Nam, the protest was circulated to all States Members of the United Nations.
http://www.rsis.edu.sg/publications/Perspective/RSIS0652009.pdf
**Nguyễn Thái Học Foundation kêu gọi gỡ tên “China” trên bản đồ của National Geographic Society.
http://vietlist.us/CD_Cali/cdsanjose.shtml

Chuyện nước Việt

Báo chí hải ngoại thì cứ cho là Nghị quyết 36 của nhà nước CHXHCN Việt Nam là một thất bại, chứ theo cái não bé hạt tiêu của tui thì thấy chả có thất bại chút nào, làm sao thất bại được khi nhà nước tập trung nghe nói rất nhiều tiền để lo cho sinh hoạt đời sống của "Khúc ruột ngàn dặm", vài trăm dặm cỡ Campuchia thì không có tính à nha. 
Cứ nhìn những "khúc ruột ngàn dặm" về nước ăn Tết mỗi năm xong rồi lại ra đi nước ngoài làm cái loa "tuyên truyền" cho nhà nước là đủ biết nhà nước thành công cỡ nào.  Chả hiểu ra làm sao cả, người trong nước thì ta thán không có tự do, bị trù dập thế nào nếu họ lên tiếng nói, hoặc như bài viết "Bác Mười Tự Hoạn"  của ông Đinh Tấn Lực, cũng đủ rùng mình về mặt trái của đảng CSVN, trong khi những Việt Kiều yêu nước, những khúc ruột ngàn dặm, đa số khi trở lại nước ngoài thì luôn có câu nói giống nhau " Ôi bây giờ VN tự do lắm, đẹp lắm, xây dựng to lắm, đồ ăn thức uống không thiếu gì, mô-đen lắm" toàn những lời thán phục khen ngợi, khêu gợi lòng thương quê nhớ tổ của những người khác mau mau mua vé về quê hương.  Không ai thấy chua xót kiểu như Người Buôn Gió nói về một nước Vệ, xem ra cũng không xa nước Việt là bao nhiêu.  Thế cũng hiểu ở đời người ta chỉ muốn thấy điều người ta muốn mà thôi.  Về VN để ăn chơi, thì giờ đâu để đi đến những nơi xa xôi nghèo khó mà tìm hiểu cơ chứ.

Thứ Năm, 11 tháng 3, 2010

Quê hương

Người ta gửi cho coi, chưa có thì giờ xem hết, thôi post lên đây cho mọi người cùng "du lịch" khỏi tốn tiền vé máy bay :-)


Việt Nam Quê Hương Tìm Lại (10 Tập)
 Xin giới thiệu dến Quý vị một sưu tập đã được Huy Ha Media Co.thực hiện hết sức công phu và giá trị cả về sử liệu cũng như về nghệ thuật trình bày.   

Chủ Nhật, 7 tháng 3, 2010

Luật sư Lê thị Công Nhân

Mải lo đi chơi, ghé nhà ông bố thấy ông đang xem tin cô Luật Sư Lê Thị Công Nhân, tôi mới chợt nhớ ngày 3/6/10 là ngày cô được ra khỏi "nhà tù nhỏ để vào nhà tù lớn". Chằng biết có nên mừng cho cô, nhưng xem  cô thì vẫn xinh đẹp với một tinh thần vững chãi tin tưởng vào lý tưởng cô đã tin.

Nghe cuộc phỏng vấn của RFA với cô. Mong là cô gặp may mắn và làm thay đổi được tinh thần của những người sẽ phải "chăm sóc" cô 3 năm quản chế tới đây.

Thứ Năm, 4 tháng 3, 2010

Ý kiến của dân về tình trạng cho thuê đất VN

Đọc báo mạng VN độ rày được thủ tướng "cởi trói" một tí hay sao đó mà thấy đăng nhiều bài nói về hoạ xâm lăng của Trung Quốc. Chuyện thì không có gì lạ đối với báo chí thế giới nhưng có đọc phần ý kiến của bài báo mới thấy người dân trong nước "không biết gì hết ráo", cứ ăn cứ chơi, cứ mua hàng rẻ Trung Quốc, để đùng một cái "một mai thức dậy" chắc thấy mình trở thành công dân hạng thứ mấy của Trung Quốc, cứ xem gương của Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông thì rõ.  Việt Nam lại chẳng có Dalai Lama nào để nói lên tiếng nói cho người VN nếu bị mất nước.  Dalai Lama không đòi lại đất nước Tây Tạng chỉ xin tự trị để bảo tồn văn hoá mà còn bị Trung Quốc xem là kẻ thù.  
Tôi thì chả biết làm gì thôi thì cứ copy để dành lại bài báo này để mong là có người đọc thêm, chứ lỡ báo trong nước lại bị cấm thì lại mất tiêu ý kiến của người dân. Bài báo cho thấy lòng dân đâu có như ý đảng muốn cho thuê đất đai, thế mà không hiểu sao họ không biết gì cả, những người CS đại biểu cho dân họ đang ở đâu ?

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

Chuyện con thạch sùng

Buổi trưa rảnh ngồi đọc thư, có cái thư sau chạy vào hộp thư nói là phải gửi cho mọi người để được may mắn, tôi không tin mấy chuyện này, nhưng thấy câu chuyện quả thật đáng suy nghĩ nên post vào đây để mọi người cùng đọc. Con người dễ mấy ai có được cái tình như hai con thạch sùng này chứ nhỉ. 


Ở Nhật xảy ra một câu chuyện có thực 100% như thế này: Có một người vì muốn sửa lại nhà nên dỡ tường ra; tường nhà kiểu kiến trúc Nhật thường đế một tấm gỗ ở giữa, hai bên trát xi măng, nhưng thực chất bên trong để rỗng.

Khi anh ta dỡ tường ra, phát hiện có một chú thạch sùng đang ngủ ở trong đó, đuôi nó bị đóng vào vào tường bởi một chiếc đinh được đóng từ ngoài vào trong. Anh này thấy tình cảnh đó vừa thấy thương thạch sùng vừa thấy tò mò, anh ta chăm chú quan sát chiếc đinh, trời ạ! đây là chiếc đinh được đóng khi xây nhà 10 năm trước.

Rút cục là có chuyện gì thế này nhỉ? Chú thạch sùng này đã mặc kẹt trên tường mà vẫn sống được trọn 10 năm! Sống được 10 năm trong bức tường tối, thật không đơn giản chút nào. Có gì đó bất thường thì phải? Anh ta tiếp tục tục nghĩ ngợi, đuôi nó bị đóng chặt, không thể xê dịch được, thế nó đã sống được nhờ vào điều gì mười năm qua? Anh ta quyết định chưa sửa công trình của mình vội, muốn quan sát xem chú thạch sùng này đã ăn gì? Anh muốn nghiên cứ tìm hiểu xem sao.

Một lát sau, không biết từ đầu bò ra một chú thạch sùng khác, miệng nó ngoặm miếng thức ăn… ồ! Anh ta lặng người đi. Thế này là sao nhỉ? Vì một bạn thạch sùng bị đinh đóng vào đuôi không thể đi lại được, một bạn thạch sùng khác đã kiếm tìm thức ăn mớm cho bạn trong suốt mười năm qua. Tôi nghe xong thấy xúc động vô cùng và thực sự cũng không nghĩ thêm về mối quan hệ của chúng nữa.

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010

Câu hỏi về Lòng Yêu Nước

Mấy hôm nay một bài viết của cô bé 16 tuổi sống ở Nauy được hai năm, cô viết "Thế nào là lòng yêu nước" , làm xôn xao cộng đồng blog, đến nỗi cô sợ hay sao đó mà phải đóng blog của cô (?), và năn nỉ bạn bè ở Facebook đừng tiết lộ tên tuổi của mẹ cô, có lẽ cô là con cái cán bộ ngoại giao nhưng có cái nhìn khác với chính quyền VN (?), không, tôi không biết tôi chỉ đóan mò thôi đấy.  Cô còn viết thêm "Số phận của một dân tộc phụ thuộc vào người dân".  16 tuổi cô không như những cô bé VN thời đại nay ăn mặc rất nghèo, tự chụp những bức hình treo lên net để phô trương, đánh mất tuổi ngây thơ, cô khác, cô đã có những trăn trở mà chắc chắn sẽ làm phiền lòng những người lãnh đạo nhà nước VN và có thể làm cho chính những Việt Kiều Yêu Nước sẽ phải tự hỏi lòng, khi nguỵ biện cho lòng yêu nước đi đi về về chỉ làm đẹp lòng "chủ trương nhà nước" mưu cầu riêng cho cái danh Yêu Nước của chính họ (?). Mong rằng đất nước sẽ có nhiều tuổi trẻ như cô, đất nước có nhiều tuổi trẻ như cô thì niềm hy vọng về một VN tươi sáng có lẽ sẽ không còn xa.

2/27/10
Hôm nay đọc thêm bài và thư ngỏ của một tác giả Nguyễn Ngọc, có thể đóan chính xác cô bé 16 tuổi này là con ai rồi, mẹ cô cũng là một người có những bài viết sâu sắc về tình hình đất nước, chỉ vì quan tâm tới đất nước mà phải "ly hương". 


Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

Thực phẩm độc hại bị cấm

Mới nhận cái tin này, post đây để người VN trong và ngoài nước lưu ý mấy cái vụ thực phẩm đóng gói, chợ VN đôi khi nghe mấy tin này họ cho đóng gói lại chả thấy nhãn bìa gì ở đâu cả, ham rẻ mua về ăn chả biết lâu ngày có ra làm sao không. 
=============

Những thực phẩm kém phẩm chất (có thể nguy hại đến sức khỏe) nhập cảng từ Việt mà FDA đang cấm.

Người Việt Hải Ngoại cần lưu ý những thực phẩm kém phẩm chất nhập cảng từ Việt

Mới đây Cơ Quan An Toàn Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã từ chối, không cho nhập cảng vào Hoa Kỳ, 27 lô hàng mà phần lớn là thực phẩm đã chế biến, sản xuất từ Việt Nam vì lý do thiếu an toàn sức khỏe.

Những loại thực phẩm này không chỉ nhập cảng vào Bắc Mỹ ( Hoa Kỳ và Canada ) mà còn được nhập cảng vào tất cả những quốc gia nơi có người Việt Tị Nạn sinh sống như những nước tại Âu châu, Nhật, Úc, v.v...

Nhận thấy rằng đây là vấn đề vô cùng lớn lao liên hệ đến sức khỏe của hàng triệu người Việt trên khắp thế giới, và tại Việt nam, nên chúng tôi chuyển ngữ và khẩn cấp gửi thông tin nầy đến tất cả qúy vị, đặc biệt lưu ý các bà nội trợ, các nhà hàng. Các đấng mày râu lo chuyện nước non, chuyện quốc gia đại sự, cũng cần lưu tâm lưu ý qúy phu nhân, qúy vị sẽ không thực thi được trọn vẹn lý tưởng của mình một khi sức khỏe bản thân và gia đình có... vấn đề. Riêng bà con nhân dân trong nước và những người Việt hải ngoại về thăm thân nhân, cũng xin hết sức cảnh giác, đau ốm, ngộ độc thực phẩm và đi khám, chữa bệnh ở Việt Nam là cả một vấn đề không thể coi thường, đừng để cho đến khi quá muộn.

Dưới đây là danh sách các công ty và địa chỉ, các loại thực phẩm bị FDA từ chối nhập cảng vào Hoa Kỳ, lý do vi phạm các điều khoản quy định về an toàn dược-thực phẩm.

1- Aquatic Products Trading Company, Tôm đông lạnh cỡ lớn có đầu, trộn lẫn các chất dơ bẩn và độc tố có hại cho sức khỏe (FILTHY, SALMONELLA), vi phạm các điều khoản 601(b), 801(a)(3), 402(a)(3), 402(a)(1)

2- Mai Linh Private Enterprise, Vũng Tàu, Thịt cua đông lạnh, có hóa chất phụ gia chloramphenicol (CHLORAMP) không an toàn cho sức khỏe, điều khoản 402(a)(2)(c) (i), 801(a)(3), theo định nghĩa của điều 21 U.S...C. 348;

3- Batri Seafood Factory, Bến Tre, Chả cua đông lạnh, có hóa chất phụ gia chloramphenicol không an toàn cho sức khỏe, điều khoản 402(a)(2)(c) (i), 801(a)(3), theo định nghĩa của điều 21 U.S.C. 348;

4- Nam Hai Company Ltd, có 2 sản phẩm vi phạm:
a) Thịt cua nấu chín đông lạnh, có trộn lẫn độc tố gây ngộ độc, độc chất salmonella và hóa chất phụ gia chloramphenol (POISONOUS, CHLORAMP, SALMONELLA,) gây tai hại cho sức khỏe, vi phạm các điều khoản 402 (a) (1), 801(a)(3), 601(a), 402(a)(2)(c) (i), 402(a)(1) theo định nghĩa của luật 21 U.S.C. 348;

b) Lươn đông lạnh, có độc chất salmonella, và nhãn ghi giả mạo (FALSE, SALMONELLA,) một loại sản phẩm khác gây hiểu lầm cho người tiêu thụ, vi phạm các điều khoản 403(a)(3), 801(a)(3), 502 (a), 402 (a) (1);

5- ACECOOK VIETNAM CO...., LTD, Mì lẩu Thái có hương vị hải sản, chế biến có lẫn lộn các chất dơ bẩn và không ghi các thành phần cấu tạo nên sản phẩm (LIST INGRE, FILTHY,) vi phạm các điều khoản 403 (i) ( 2), 801 (a) (3), 601 (b) 402 (a) (3) ;

6- Olam Vietnam Ltd, thị xã Gia Nghĩa, có 7 lô hàng bị ngăn chặn gồm Tiêu đen nguyên hạt và Tiêu đen xay đều có chứa độc chất Salmonella, vi phạm các điều khoản 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

7- Don Nguyen, 3 sản phẩm thô là Đậu khấu (Cardamon), Cam thảo (Licorice) và Quế (Cinnamon) ghi sai nhãn về hình thức và nội dung được quy định theo các điều khoản 4(a), 801(a)(3);

8- Van Nhu Seafoods Limited Company (VN Seafoods Co.), Nha Trang, Cá sòng ngân (Mackerel) cắt khúc đông lạnh, chế biến dơ bẩn, lẫn lộn các chất hỗn tạp, điều khoản vi phạm 601(b), 801(a), 402(a)(3);

9- Nam Phong Trading Co, Tiêu bột chứa độc chất Salmonella, theo điều khoản 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

10- Lucky Shing Enterprise Co Ltd, Bột ngũ cốc ăn liền vi phạm rất nhiều điều khoản bị nghiêm cấm gồm có: Thiếu thông tin đầy đủ (NOT LISTED) về sản phẩm theo đòi hỏi của các điều 502 (o), 801 (a) (3), 510 (j), 510 (k);

Không ghi thành tố gây rủi ro bệnh tật hiện diện trong sản phẩm dưỡng sinh (UNSFDIETLB) , theo các điều 402 (f) (1) (A);

Giả mạo sản phẩm (FALSE) gây hiểu lầm, điều 403 (a) (1), 502 (a);

Trên nhãn thiếu thông tin đặc biệt về thực phẩm dinh dưỡng (DIETARY,) theo điều 403 (j);

Nhãn không ghi phần tiếng Anh (NO ENGLISH,) 403 (f), 502 (c), vi phạm các điều luật 21 CRF 101. 15 (c), 801.15 (c) (1) và 201.15 (c) (1);

Thực phẩm dưỡng sinh nầy (được coi) là một loại dược phẩm mới nhưng CHƯA có đơn xin thử nghiệm để được chấp thuận (UNAPPROVED, ) theo điều 505 (a);

11- Nhan Hoa Co., Ltd, Cá đông lạnh, chứa độc tố Salmonella, vi phạm điều 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

12- United Seafood Packer Co. Ltd, Thịt (Fillet) cá lưỡi kiếm đông lạnh, chứa độc chất gây ngộ độc (poisonous), vi phạm điều khoản 402 (a) (1), 801 (a) (3), 601 (a);

13- Seapimex Vietnam, có 7 lô hàng về Chả cua đông lạnh, có hóa chất phụ gia Chloramphenol không an toàn sức khỏe theo định nghĩa của điều luật 21 U.S.C. 348, vi phạm các điều khoản 402 (a) (2) (c) (i), 801 (a) (3) ;

14- MY THANH CO., LTD, có 5 lô hàng gồm 4 sản phẩm:
Cá hồng snapper (?) đông lạnh bị từ chối nhập cảng, vi phạm các điều:

Ghi không đúng tên sản phẩm mà là dưới tên một loại sản phẩm khác (WRONG IDEN, vì không biết hay nhằm đánh lừa người tiêu thụ ? Điều này chỉ có công ty sản xuất mới có thể trả lời !) theo điều 403 (b), 803 (a) (3);

Thiếu ghi chú về trọng lượng hay số lượng (LACKS N/C) theo điều 403 (e) (2), 502 (b) (2);

Nhãn sai (LABELING) về vị trí, hình thức và nội dung theo điều 4 (a), 801 (a) (3);

Dưa muối và Nước chấm chay (nước tương: Vegetarian dipping sause) có các vi phạm:

Không đăng ký là loại sản phẩm đóng hộp có độ acid thấp (NEEDS FCE) theo đòi hỏi của điều luật 21 CFR 801.25 (c) (1) hoặc 801.35 (c) (1), vi phạm điều 402 (a) (4), 801 (a) (3);

Không ghi chú thông tin về tiến trình sản xuất (NO PROCESS,) theo đòi hỏi của điều luật 21 CFR 801.25 (c) (2) hoặc 801.35 (c) (2), vi phạm điều 402 (a) (4), 801 (a) (3);

Cá sòng ngâm muối (mắm cá sòng) vi phạm:

Độc chất Histamine vượt quá liều lượng chấp nhận, gây hại cho sức khỏe theo các điều 402 (a) (1), 801 (a) (3);

Sản phẩm dơ bẩn, có chứa các chất dơ bẩn hỗn tạp (FILTHY) theo các điều 601 (b), 801 (a) (3), 402 (a) (3);

15- Kien Giang Ltd, t/p HCM, có 2 sản phẩm là Cá nhồng (barracuda) và cá mang giổ (?, Perch,) đông lạnh, dơ bẩn, trong sản phẩm có tạp chất vi phạm các điều 601 (b), 801 (a) (3), 402 (a) (3) ;

16- Vinh Sam Private Trade Trade Enterprise, Tuy Hòa, Cá lưỡi kiếm tươi, có độc tố gây ngộ độc, vi phạm các điều 402 (a) (1), 801 (a) (3), 601 (a) ;

17- Tu Hung Trading Company aka Doanh Nghiep Tntm Tu Hung, có 3 sản phẩm:

a) Bánh hạnh nhân, nhãn không ghi các thành phần nguyên liệu tạo nên sản phẩm (LIST INGRE,) vi phạm các điều 403 (i) (2), 801 (a) (3);

b) Bánh chay: Không đủ phẩm chất (STD QUALITY,) như được ghi trên nhãn, vi phạm điều 403 (h) (1), 801 (a) (3)

Nhãn hiệu giả mạo (FALSE,) không ghi đúng nguyên liệu hay ghi sai lạc gây nhầm lẫn cho người tiêu thụ, vi phạm điều 502 (a), 801 (a) (3);

c) Bánh tráng mè: Không ghi đúng tên theo định nghĩa, tính chất và tiêu chuẩn của sản phẩm (STD IDENT,) theo điều 401, do đó vi phạm các điều 403 (g) (1), 801 (a) (3) ;
Nhãn hiệu không ghi các tố chất chính yếu gây dị ứng (ALLERGEN,) hiện diện trong sản phẩm theo đòi hỏi của các điều 403 (w), 403 (w) (1), 801 (a) (3) ;

18- Trung Nguyen Coffee Enterprise (Cà phê Trung Nguyên), Cà phê bột uống liền "3 in 1" (túi có 20 gói), đã vi phạm các điều:

Không ghi thành phần nguyên liệu tạo ra sản phẩm (LIST INGRE,) 403 (i) (2) ;

Nhãn hiệu giả mạo hay ghi chú sai lạc (FALSE,) vi phạm các điều 403 (a) (1), 801 (a) (3), 502 (a) ;

Sản phẩm không cung cấp đầy đủ thông tin về các thành phần dinh dưỡng và chất béo (TRANSFAT,) có trong sản phẩm theo đòi hỏi của điều 21 CRF 101.9 (c), vi phạm điều 403 (q), 801 (a) (3) ;

19- Dragon Waves Frozen Food Factory Co. Ltd, Nha Trang, Cá ngừ (cắt thành từng miếng) đông lạnh, sản phẩm dơ bẩn, nhiều tạp chất gây ngộ độc, cùng với độc chất Histamine vượt quá liều lượng chấp nhận, vi phạm các điều 402 (a) (1), 402 (a) (3), 601 (b), và 801 (a) (3);

20- Thang Loi Frozen Food Enterprise, Tôm đông lạnh, có độc chất Salmonella, vi phạm điều 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

21- Hai Dang International Trading Services Co. Ltd, t/p HCM, hóa chất hay dược liệu Lidocaine (dùng trong thực phẩm [?], có thành phần hóa học là C14H22N2O,) đã vi phạm 2 điều:

Không liệt kê thông tin đầy đủ về sản phẩm (NOT LISTED,) theo đòi hỏi của các điều 502 (o), 801 (a) (3), 510 (j), hoặc 510 (k);

Dược liệu mới chưa xin phép kiểm nghiệm để được chấp thuận xử dụng (UNAPPROVED, ) vi phạm điều 505 (a), 801 (a) (3);

22- Chinh Dat Co., Ltd, Bao tử cá sấy khô, sản phẩm dơ bẩn, nhiều tạp chất, vi phạm các điều 402 (a) (3),601 (b), và 801 (a) (3) ;

23- Vinh Hiep Co., Ltd, t/p HCM, có 2 sản phẩm:
Thịt hào (ngêu, sò) hấp chín đông lạnh, và Mực đông lạnh, là các sản phẩm dơ bẩn, nhiều tạp chất, vi phạm các điều 402(a)(3), 601(b), và 801(a)(3);

24- Vifaco Nong Hai San-Xay, thịt ốc hấp chín đông lạnh, chứa độc chất Salmonella, vi phạm điều 402 (a) (1), 801 (a) (3) ;

25- Vuong Kim Long Co. Ltd, có 3 sản phẩm về bún khô, loại đặc biệt, sợi lớn, sợi nhỏ, sản phẩm dơ bẩn và loại phẩm màu không an toàn, vi phạm các điều 601(b), 801(a)(3), 402(a)(3), 402(c), 501(a)(4)(B) .

Trên đây chỉ liệt kê điển hình một số công ty, một số sản thực phẩm bị từ chối nhập cảng vào Hoa Kỳ nội trong năm mà thôi. Còn bao nhiêu công ty khác, bao nhiêu sản phẩm khác đã "lọt sàng" trước đó và sau nầy? Còn bao nhiêu sản phẩm từ Việt Nam đã vượt ra ''biển lớn" vào Canada , Âu châu, Nhật, Úc v.v... và v.v...? Bao nhiêu triệu tấn thực phẩm có các chất độc hại đã "nằm vùng" (và hoành hành) trong bao tử người Việt sống ở nước ngoài và tất nhiên cả và người dân trong nước?

Thỉnh thoảng trong nước, báo chí có loan tin học sinh, công nhân hay người dân bình thường, thấp cổ bé miệng bị ngộ độc thức ăn, nhưng không thấy thống kê số người ngộ độc hay tử v ong. Tình trạng thông tin hay thống kê nầy đối người Việt sống ở nước ngoài trên toàn thế giới lại càng hiếm hoi, có thể nói là hầu như chưa nghe thấy (vì không ai thông báo hay loan tin chứ không hẳn là không có).


Thứ Bảy, 20 tháng 2, 2010

Người nay nhìn lại chuyện xưa

Blogger thuộc vào loại "cổ" nên cũng thích nói chuyện với người lớn (thật ra là nghe họ nói thì đúng hơn) và đọc chuyện xưa. Cho nên sáng đọc mấy câu chuyện xưa và chẳng xưa.  Chép vào đây vì trang web Dân Luận vẫn bị tấn công rât khó vào. 

Người Buôn Gió - Đại Vệ Chí Dị


Năm Canh Dần, nước Vệ triều nhà Sản thứ 65.

Mùa xuân ấy, trời đất an hòa, khắp nơi vang lời ca tiếng hát ca ngợi công đức trời bể của tiên đế và triều đình. Vệ Mạnh Vương nhân dịp đầu xuân đi coi bói, thầy bói gieo quả phán rằng

- Xuân hồi thiên quốc, vạn đại dung thân.

Vệ Vương sai bộ Lễ sắm cống vật chu đáo, hậu hĩnh. Chọn ngày đẹp sang Tề chầu kiến. Đoàn đi hùng hậu lắm , rất nhiều đại thần đi theo. Tề Bá Vương đón tiếp cực kỳ thân thiết. Vệ Vương dẫn quần sụp lạy ba hồi, tiếp tới dâng bản đồ và ngọc tỉ truyền quốc nước Vệ cho Tề Bá Vương. Vệ Vương sụt sùi nước mắt nói.

- Mong thiên triều nhận lại đứa con đã lưu lạc khỏi đất mẹ nhiều năm.

Tề Bá Vương đón nhận ngọc tỉ và bản đồ nước Vệ, hướng về thái miếu nước Tề khóc rống mấy hồi.

- Tiền nhân ơi, hàng ngàn năm mòn mỏi, nay anh em cũng quay về một cội.

Nói rồi ôm chầm lấy Vệ Vương khóc ròng, triều thần hai bên nhìn cảnh ấy ai cũng xúc động nước mắt ràn rụa. Tề Bá Vương mở tiệc khoản đãi linh đình, lúc rượu ngà ngà, hai bên bồi hồi cảm xúc mới ôn lại chuyện cũ. Vệ Vương ngậm ngùi kể.

- Xưa tổ tiên nước Vệ là người Hàng Châu tên là Quân, rời khỏi nước Tề đi lập nghiệp xuống phía Nam lấy vợ sinh được 100 con. Dựng lên cơ đồ một cõi, Quân lòng vẫn nhớ nước mẹ khôn nguôi mới tự nhận họ là Lạc. Ý muốn nói mình là đứa con lạc khỏi đất mẹ là nước Tề. Sau nhiều năm chính biến liên miên, nhiều sử gia quên mất chuyện ấy. Lại vì tính khí trái ngược mới vẽ ra chuyện nước Vệ nước Tề là hai cõi riêng biệt. Đến thời nhà Lý , nhà Lê các quan lại đại thần vì riêng tư mà khẳng định chuyện hai nước riêng rẽ không liên quan gì đến nhau. Sự hiểu lầm ấy kéo dài khiến hai bên có nhiều xung biến. Nay nhờ ơn phúc của tiền nhân, các sử gia, tuyên huấn nước Vệ mới tìm ra và chứng minh nguồn cội của Lạc Quân.

Tề Bá Vương nói.

- Cũng nhờ ơn phúc mà các sử gia, tuyên huấn nước Tề mới thông minh tìm ra được nguồn cội như vậy. Phải ban thưởng thật hậu cho họ.

Hai bên bàn chuyện hồi mẫu quốc của nước Vệ, Tề Bá Vương nói.

- Sau bao năm xa cách, nay đột ngột trở về không phải là chuyện dễ, phải làm từ từ từng bước cho dân Vệ theo kịp, tránh gây bất ổn về chính sự, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân đang yên ổn làm ăn. Trước tiên cứ thu nhận một vùng lãnh thổ đất liền , trên biển. Bước tới là để cho dân Tề sang Vệ khai khẩn làm ăn. Cùng với tuyên truyền tình hữu nghị anh em hai nước có nguồn gốc ruột rà mạnh mẽ. Dân Vệ dần dần sẽ thấm nhuần , thấu hiểu được, việc tái hợp vì thế mà không gây biến loạn, tránh những phần tử xấu, những thế lực thù địch xúc xiểm khiến nhân dân hoài nghi mà việc không thành.

Vệ Vương cùng quần thần sụp lạy hô vang

- Thiên tử anh minh, sáng suốt như thần, đúng là phúc của tiền nhân.

Vệ Vương ra về, lúc về hứa sẽ khẩn trương làm theo những lời căn dặn của Tề Bá Vương.

Vua tôi nước Vệ đi khỏi triều đình. Quan đại phu nước Tề mới thắc mắc hỏi Tề Bá Vương.
- Thưa thiên tử, sao chúng ta không nhận hết luôn thể nước Vệ.
Tề Bá Vương ngửa cổ lên trời, cười sằng sặc một hồi mới từ tốn giải thích.

- Cái nguồn cội nước Vệ là Lạc Quân là do ta bỏ tiền mua chuộc khiến bọn sử gia Vệ, bọn tuyên huấn làm theo.Lại có những trí giả chúng ta cài trong lòng nước Vệ bây lâu nay hỗ trợ. Bọn Vệ mới tin là thật. Chúng là bọn man di, mọi rợ sao cùng huyết thống với chúng ta. Nhận hết cả dân man ri ấy há có phải là gánh nặng cho nước Tề sao. Nay cứ nhận đất đai, lãnh hải , tài nguyên của chúng có phải là hơn không ?

Các đại thần nước Tề đều tấm tắc khen.

- Thiên tử thật cao kiến, nhận của tất phải hơn nhận người, mưu kế này có thể gọi là '' diễn biến hòa bình'' không đánh mà thắng.
Lại nói Vệ Vương ra về, qua khỏi biên giới mới chia. Có đại thần hỏi.

- Chuyện nguồn cội nước Vệ có đúng như vậy không ?

Vệ Vương nói.

- Đúng hay sai giờ không quan trọng, cái cần là chúng ta còn dựa vào Tề còn có được bổng lộc. Dẫu không là trùm thiên hạ thì cũng có thái ấp, dăm chục mẫu dưỡng thân. Còn hơn biến loạn há đến một tấc đất cũng vùi thây cũng chả còn.

Xuân năm ấy, nước Vệ mừng năm mới tưng bừng, nhạc tấu bài tình anh em ruột thịt Vệ Tề phổ biến khắp dân gian. Ai nấy cũng vui mừng.

* Không biết người đọc ra sao chứ tôi đọc sao cứ thấy mình đọc chữ Vệ thành chữ Việt, mà chữ Tề thành ra chữ Tầu, chả biết mắt quáng gà thế nào, hay đọc một đàng nghĩ một nẻo ?


Người thầy chạng vạng chưa từng gặp mặt của tôi

Hà Văn Thịnh, Khoa Lịch Sử, Đại học Khoa học Huế

Bàn về một nhân vật lịch sử gây nên nhiều tranh cãi, hiểu lầm. Cần phải trả lại cho Trần Trọng Kim những gì đúng như cuộc đời cần phải thế.

“Bán tự vi sư” (nửa chữ cũng là thầy) có lẽ vẫn là chưa đủ khi tôi muốn nói về một người THẦY - người chưa từng dạy tôi dù chỉ là nửa chữ; nhưng từ khi tôi học sử, tôi luôn coi thầy là một trong những người thầy đáng trọng, đáng kính - bất kể những đổi thay, bất kể những hoả hoạn, mây mù và bất kể luôn cả những điều khó hiểu… Người thầy đó, trong mắt tôi – là thầy của những bậc thầy - Học giả Trần Trọng Kim (TTK). Trong bài viết này, xin không bàn đến con người chính trị của TTK, mà chỉ bàn đến Bậc Thầy sử học TTK.

1. Thế hệ chúng tôi (vào học Khoa Sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội, khoá 18, đầu năm 1974, sau khi ăn Tết Nguyên Đán– quá khác biệt về thời gian so với bây giờ); là thế hệ chạng vạng (twilight), mượn nghĩa từ cách nói của nhà văn Mỹ Stephenie Meyer (Chạng vạng, NXB Trẻ, 2008). Chúng tôi chạng vạng về kiến thức chắp vá, ăn theo, “nhai lại”; chạng vạng về tư duy; chạng vạng nhiều hơn về những điều úp mở; chạng vạng đặc biệt về khẳng định chắc như cua gạch - “cái gì ta cũng nhất”; chạng vạng siêu phàm vì cái lẽ minh triết của ta (dẫu không hề được so sánh với minh triết nào khác) vẫn là bất tử của thời đại; chạng vạng rõ ràng về thực tế của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là chỉ hơn một năm nữa thôi, sẽ đến lúc “Bắc Nam sum họp một nhà”…

Chạng vạng tức là lúc hai thứ ánh sáng – chính xác là “ánh sáng đôi” ban ngày và ban đêm xen kẽ, đan toả nhập nhoà; thật giống với thân phận của lũ chúng tôi, khi vào đại học, đất nước bị chia cắt, lúc ra trường là thống nhất “hai trong một” khắc khoải, rỡ ràng. Chạng vạng với người bi quan là hoàng hôn bởi sau hoàng hôn là màn đêm. Chạng vạng của khát khao lạc quan là lúc sắp sửa của bình minh – cái sẽ đem đến ánh sáng ban ngày?

Đó có thể là định mệnh bởi vì số phận của chúng tôi thực sự liên tục, bị thử thách, bị dằn vặt không ngừng vì cái ánh sáng nhập nhoà khó hiểu ấy. Trong đó, đỉnh cao của mọi sự trăn trở là TTK.

Đọc bài viết của Vũ Ngọc Khánh, Văn hoá Nghệ An, số 161 (tháng 10-11.2009), tôi chợt nhận ra rằng cây đa có hàng trăm tầng lá - Vũ Ngọc Khánh, đã nói hộ tôi thật nhiều điều (tôi dù có biết chút ít cũng không thể nói đúng và đủ như ông). Bởi chẳng có ai muốn “vẽ bản đồ Nho giáo” nhưng lại dựng lên sừng sững đủ cả núi, sông và cái hồn của Nho gia được như thầy TTK (cũng xin phép không bàn đến cuốn Nho giáo).

Việt Nam sử lược là cuốn Sử Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ được TTK viết năm 1919, xuất bản năm 1921 và, Nxb Văn hoá Thông tin đã tái bản năm 2008. Hãy hình dung cái thời mà tất cả các trường học đều phải học lịch sử nước nhà qua các sách viết bằng chữ Pháp thì mới thấy trân trọng đến mức nào công lao khai phá, thức dậy quá khứ của bậc học giả quan viễn TTK! Sống trong thời chuyên chế, thực dân (trước 1945) mà dám đề cao Quang Trung - Nguyễn Huệ thì nhất định phải là bậc văn bút đảm lược kỳ tài. Nhưng, chắc chắn rằng, TTK là người thầy đáng quý nhất ở chỗ: Thầy đã viết sử bằng ngòi bút của trái tim - điều mà cho đến nay, chưa có nhiều nhà sử học làm được. Sự khô khan, vụng về, tắc trách của SGK thời nay - biến lịch sử thành nhiều mảng gạch vụn, so với những điều tâm huyết của Thầy, quả là một trời một vực.

2. Tôi được dạy (và đã từng dạy) rằng TTK là sự thủ tướng bù nhìn, là tay sai của Nhật, là bán nước cầu vinh, là tột cùng của tệ hại và kém cỏi… Vân vân và vân vân...

a) Thế nhưng, khi đọc Việt Nam sử lược, tôi mới chợt vỡ lẽ ra rằng ở trường đại học mà tôi đã học, không có một người thầy nào giống như thế. Cho dù các nhà lý luận và rất nhiều cây đa cây đề sử học có biện giải thế nào đi nữa, tôi vẫn biết chắc thầy TTK đã viết cuốn sách đó bằng máu của mình. Đó là những giọt máu đập mạnh và đập thật nhanh vì giống nòi, non sông, tổ quốc. Không có những phù phiếm, giả nguỵ, không hề có những “thao tác” của “diễn viên sử học” trên sân khấu chính trị và, tuyệt đối không có sự ỡm ờ khen chê giống như không ít cuốn sử mà tôi đã đọc.

Hồi đó, tôi chưa biết từ stress có nghĩa là gì. Nhưng sự hoang mang là có thực. Đúng và sai, phản động và yêu nước, con người chính nghĩa và con người nạn nhân của những sai lầm…? Rất nhiều câu hỏi đã làm tôi trở nên mất thăng bằng và bất lực vì sự thực là những gì tôi trăn trở không hề giống với những điều tôi đã được học trên giảng đường. Thế nhưng, tôi tin chắc một điều: Tác giả của Việt sử lược không thể là Việt gian. Việt gian từ tâm, từ trí không thể viết được như thế!

b) Phương pháp sử học của TTK là kể lại chính xác những điều đã xảy ra với mức độ có thể nhất. Đồng thời, TTK cũng đã nêu những nhận xét khách quan nhất về những gì đã xảy ra một cách khách quan nhất. Xin dẫn chứng bằng một vài chi tiết sau.

Trang 25, TTK viết rằng “đời Hồng Bàng không chắc là chuyện có thật” bởi vì một sự thật giản dị: 18 đời vua, từ năm Nhâm Tuất (2879 tr.CN) đến năm Quý Mão (285 tr.CN) là 2622 năm, chia ra mỗi đời vua là gần 150 năm. Xin lưu ý rằng tính chi tiết cả năm âm lịch cách đây hàng ngàn năm, chú đầy đủ tên viết theo chữ Hán của các nhân vật lịch sử, là cách làm duy nhất của học giả TTK, chưa có ai vượt qua, kể cả bây giờ – đòi hỏi sự cẩn thận, chu đáo và tận tuỵ rất lớn với lịch sử nước nhà.

Trang 40, TTK ngụ ý Triệu Đà có tinh thần Việt khi viết: “Hán triều sai tướng đem quân đánh Nam Việt” và ở trang 41, chỉ bằng một chi tiết rất nhỏ, TTK đã cho người đọc biết rõ sự thâm độc, vô nhân của triều đình phong kiến phương Bắc: “ngựa, trâu, dê chỉ bán cho (Việt Nam) giống đực, chứ không bán cho giống cái”.

c) TTK đã trích dẫn rất thẳng thắn lời của sử gia Lê Văn Hưu khi viết về dân tộc Việt Nam: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi lên đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như trở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho đến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ bó tay làm tôi tớ cho nhà Tàu, mà không biết xấu hổ…”. Cách nhìn nhận sự thật như thế rất khác với cách nói dân tộc Việt Nam khi nào cũng dũng cảm, quật cường.

d) TTK đã khẳng khái thừa nhận Quang Trung anh minh, nhìn xa trông rộng khi dẫn lời của vị Hoàng đế yểu mệnh: “Sau khi chúng (quân Thanh) thua một trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi” (trang 398). Câu nói ấy của Quang Trung mới đến muôn đời và chính Quang Trung đã đề ra nguyên tắc vàng: “nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa”.

e) TTK đã nhận xét rất chính xác về Tôn Thất Thuyết là một kẻ hèn nhát – phát động phong trào Cần Vương rồi nửa đường bỏ vua, trốn sang Trung Quốc. Tuy nhiên, ông cũng rất công bằng khi ca ngợi hai người con dũng liệt của họ Tôn là dù cha có thế nào đi nữa vẫn tận trung với nước, tận hiếu với vua. Đó là Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm (trang 592-593).

f) Việt Nam sử lược có không ít những chi tiết sai, những niên đại chưa chính xác. Nhưng, nếu xét từ cách nhìn nhận rằng cuốn Sử Việt Quốc ngữ đầu tiên, được viết trong bối cảnh nước mất nhà tan thì hoàn toàn có thể hiểu và chấp nhận được.

3. Viết sử và in sử dưới chế độ thực dân phong kiến, ngay sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, nên TTK hiểu rõ phải cân nhắc rất kỹ càng từng câu, từng chữ. Bây giờ, chúng ta dễ dàng phê phán đó là “hạn chế” của ông, quả thật, không công bằng một tý nào. Chẳng hạn, nhận xét về Nguyễn Văn Tường, chỉ với một câu, chúng ta hiểu thật nhiều điều, giống như chuyện mới xảy ra hôm qua: “Ông Tường thị chịu tiền hối lộ của những người Khách, cho chúng nó đem tiền sềnh, là một thứ tiền niên hiệu Tự Đức, mỏng và xấu, đúc ở bên Tàu đem sang, bắt dân phải tiêu” (trang 570). Thực ra, TTK đã nhắn gửi với hậu thế rất nhiều khi ông viết rằng: “Ta chỉ biết rằng các dây sợi dệt nên tấm Nam sử này còn dài, người dệt tuy phải lúc đau yếu, bỏ ngừng công việc, nhưng còn mong có ngày khoẻ mạnh lại dệt thêm, có lẽ lại dệt được tốt đẹp hơn, cũng chưa biết chừng” (trang 603). Nói như thế chẳng khác gì nói vì dân ta đang đau yếu (bị đô hộ) nên người viết sử cũng chẳng làm gì được hơn, đành phải chấp nhận và biết rõ, người sau sẽ viết sử Việt đúng hơn và hay hơn.

Tấm lòng tận trung với nước của TTK (trong cuốn sách Việt Nam sử lược) được thể hiện khá rõ khi ông đặt niềm tin vào Ngày Mai: “Người Việt Nam vì hoàn cảnh, vì tình thế bắt buộc phải im hơi lặng tiếng, nhưng lòng ái quốc mỗi ngày một nồng nàn, sự uất ức đau khổ mỗi ngày một tăng thêm. Cho nên cứ cách độ năm bảy năm lại có một cuộc phiến động” (tức khởi nghĩa, trang 596). TTK cũng nhận xét rất xác đáng rằng sự nguy nan của nước nhà, nguyên nhân cơ bản là do “thời đại biến đổi mà người mình không biết biến đổi, cho nên nước mình mới thành ra suy đồi” (trang 561)… "Khi lâm vào cảnh bĩ mà người trong nước cứ vững lòng giữ được cái nghị lực để sinh tồn và tiến hoá, thì rồi cũng có ngày chấn khởi lên được. Vậy chúng ta đây đều là một dòng dõi nhà Hồng Lạc, nếu ta biết kiên tâm bền chí, thì lại không có một ngày ta có cái địa vị vẻ vang với thiên hạ hay sao? Sự ước ao mong mỏi như thế là cái nghĩa vụ chung cả chủng loại Việt Nam ta vậy” (trang 604).

4. TTK có không ít những sai lầm đáng chê trách mà rất nhiều học giả đã phê phán, ở đây tôi thiết nghĩ không cần nhắc lại nữa. Tôi chỉ muốn nói qua một chút cái chạng vạng của nỗi băn khoăn về một nhà sử học xuất sắc.
Lịch sử nhân loại có không ít những con người bị/được chạng vạng khen chê như TTK. Thống chế Pétain hay Vị Tiến sĩ đầu tiên của Nam Bộ - Phan Thanh Giản là những điển hình. Một nửa dân tộc Pháp nguyền rủa Pétain đã bán nước cầu vinh, đầu hàng Đức Quốc xã. Nửa còn lại cảm ơn ông đã cứu hàng vạn sinh linh Pháp, cứu được Paris thoát khỏi đổ nát, hoang tàn. Phan Thanh Giản còn bi thương hơn nữa khi “mãi quốc” rồi lại uống thuốc độc để chấm dứt mạng sống, tạ tội với non sông đất nước bằng nấm mộ tồi tàn, ghẻ lạnh – ánh phản rõ ràng nhất của sự thanh liêm…

Phải chăng TTK đã có những tính toan “lẫn lầm” tương tự như thế khi làm thủ tướng dưới thời Nhật chiếm đóng nước ta. Tất nhiên, sau Cách mạng tháng Tám mà TTK vẫn không chịu hiểu thế sự, dân tộc; vẫn cố phò Bảo Đại là điều không thể biện minh. Đây là điều sai lớn nhất. Chợt nhớ trong một trao đổi gần đây, GS Nguyễn Huệ Chi có viết qua email rằng “Đa số trí thức chẳng hiểu chính trị nó manoevre (thủ đoạn đểu giả) lắm”. TTK là một học giả uyên bác nhưng lại tự/bị biến thành một công cụ ngờ nghệch và giả dối của chính trị. Có thể dùng cách suy luận của GS Nguyễn Huệ Chi để lý giải con người TTK được chăng? TTK muốn đóng góp sức mình cho dân tộc nhưng giống như người đẩy một cỗ xe thoát ra khỏi vũng lầy: Sức lực để đẩy xe không bằng cái sức bỏ ra để lôi hài bàn chân của mình thoát ra khỏi vũng lầy! Sự ngây thơ chính trị của đa số trí thức đều dẫn đến những kết cục tương tự. Cái cách đấy sai nhiều lắm nhưng vẫn có những điểm sáng đáng trân trọng. Chẳng hạn, chính phủ “bù nhìn” TTK vẫn có thể làm được những điều có ích như việc tha tù phạm (tháng 5-6.1945), giải phóng cho một số chiến sĩ cách mạng bị bắt như Nguyễn Duy Trinh, Lê Tính; ban bố lệnh hoãn nợ cho dân nghèo, đề ra chương trình giáo dục mới, cách thức “trừng Thanh, lại trị”... Những chính sách đó đã giảm bớt sự thống trị phát xít hà khắc cho nhân dân ta. Trong một chừng mực nào đó, có thể nói: TTK đã bày tỏ tấm lòng với nước theo cách của mình (dù có không ít những điều sai, như đã nói ở trên).

Huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là nơi sinh ra nhiều danh nhân “chạng vạng”. Hầu như bất kỳ một danh nho nào đã ra đời nơi mảnh đất cồn khô, đất bạc này cũng có đủ sự “chạng vạng” với muôn sắc, muôn màu: Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Hà Văn Mỹ, Nguỵ Khắc Tuần, Vũ Đức Huyền, Trần Trọng Kim…

Những nhân vật lịch sử ấy, mỗi người chạng vạng một cách khác nhau. Và, đã là chạng vạng thì tất nhiên buộc hậu thế phải tốn nhiều giấy mực, bất đồng. Âu cũng là cái lẽ đương nhiên của hầu hết các tài năng...

90 năm trước, khi đặt bút viết những dòng đầu tiên của Việt Nam sử lược, TTK chắc chắn phải biết rằng đó là cách tốt nhất để khơi dậy tinh thần dân tộc của cả giống nòi. Chỉ riêng điều đó thôi, có thể khẳng định Học giả Trần Trọng Kim là nhà sử học đầu tiên, người thầy đáng kính của nền sử học cận hiện đại.

Huế, tháng 2.2010. Tel: 0914.079.210 &01255.244.159

Lưu trữ

Tự điển



Tự điển Việt Nam
đã được bổ sung những ý nghĩa "chính thức"