Nguyễn Văn Dương dịch
Cho nên điều mà Phan Bội Châu lo, là quốc dân oán nước Pháp
không đủ sâu. Những sách ông ấy viết ra, không bàn thời thế, không nói
lợi hại, dựa vào chỗ không mà biên soạn, tự dối mình, dối người. Nói tóm
lại, đều là kêu gọi lòng thù ghét của quốc dân mà thôi... Tôi tự biết
những lý do mà chủ nghĩa của ông ấy nêu ra thì rất yếu, nhưng đem thi
hành với đặc tính người nước Nam thì rất mạnh. Còn chủ nghĩa của tôi, lý
do nên ra thì rất mạnh, nhưng đem ra thi hành với đặc tính người nước
Nam cùng trong thời thế hiện tại của nước Nam thì rất yếu.
5. Luận về phong trào chống Pháp
Từ thời kỳ nước Nam giao thiệp với nước Pháp, đến thời kỳ chịu sự bảo
hộ cho đến nay, trên dưới hơn sáu mươi năm. Mà học giới trên dưới trong
cả nước sa đọa đạt tới cực điểm, quốc dân căm ghét cũng đạt tới cực
điểm.
Sự thế nguy ngập, đợi lúc nổ ra. Người có chí lớn sớm lo lắng, nghĩ
đến việc cứu giúp, nhưng mê vì thời thế, bế tắc về học thuật mà không
tìm thấy đường.
Từ khi sách mới (tân thư) dịch của châu Âu du nhập, mới hiểu rõ tiền
đồ sống chết của dân tộc ở trong cái đại thế mạnh yếu của năm châu. Cái
đặc tính vĩ đại của dân tộc ngàn năm, cái linh chất sáng suốt, vì học
thuyết của khoa cử che lấp, mà bị chìm đắm ẩn nấp ở bên trong, không thể
tự trở thành phát đạt để mưu sự sống còn, đến nỗi gần như mất, chết mà
không tự biết. Một sớm kia bỗng nhiên mê mộng mới bị phá, như vén mây mù
mà thấy trời xanh, như ra khỏi nhà tối mà thấy mặt trời mặt trăng. Lấy
đó mà suy nghĩ, thì có thể biết vậy.
Nhưng lầm lạc đã lắm, chìm đắm đã sâu, vừa mới thoát khỏi chín lần
vực thẳm, thần hồn chưa tỉnh. Như người tù bị trói buộc lâu ngày mới rời
khỏi nhà ncuj, chân run rẩy chưa đi được, phải dựa vào người bên phải
bên trái; như kẻ dân ngu ở hương thôn vừa bước vào thành thị, miệng ngập
ngừng chưa nói được, thật giả phải hỏi khách, chợt vui chợt buồn, vừa
nghi vừa tin, suy thầm nghĩ lặng. Trạng thái tinh thần của quốc dân thời
ấy thật không thể dùng bút mực, ngôn ngữ mà có thể hình dung ra được.
Thời ấy thế ấy, sống chết trọng hệ, được thua còn mất, cách nhau một
sợi tóc, phải cậy vào một vài chí sĩ hiểu rõ thời cuộc, định trước
phương châm, làm kẻ chỉ đường cho dân. Không như buổi giao thời giữa cũ
và mới, kẻ thông đạt thì ít, kẻ ngoan cố thì nhiều, cái sai lầm ác độc
của nhà bát cổ chưa gột sạch trong não, cảnh lạ lùng quái gở của năm đại
châu, chợt đã biến huyễn ở trước mắt, hiện hình biến tướng, chẳng khôn
chẳng ngu, say sưa hô bậy, chẳng mới chẳng cũ.
Bỗng nhiên một tiếng sét nổ ra, long trời lở đất, dư ba của chiến
tranh Nhật - Nga, động lực của duy tân Trung Quốc vang dội bốn phía, lay
động cả nước. Do đó, các cử động, các đảng phái trong nước cũng theo đó
mà nổi lên.
Cho nên đầu thì là một đảng [46], tiếp đó lại chia làm hai đảng; một đảng chủ trương cách mệnh, một đảng chủ trương tự trị.
Người trong hai đảng, lại ra lại vào, trước là chủ sau là tớ, giới
hạn khó phân, tranh biện không thôi. Phàm trăm cử động giáo mác đụng
nhau, phàm trăm thi thố mọi việc tranh tới trước. Cho nên tin tức trong
đó, không phải là người có lòng tinh mắt sáng, thì khó có thể phân biệt
được. Đến nay, việc dân biến, binh biến, bị tù bị chết không dứt. Phàm
tôi bị thất bại vùi trong đất, mà quan lớn của hai nước quan sát đã
cùng, cầu ở chỗ này không được, cầu ở chỗ khác không được, một tấm lòng
nghi, không do đâu mà phá bỏ. Không lạ gì một mẻ lưới bắt sạch, vơ vét
chẳng còn ai, mà lao ngục vì hiềm nghi, thảm khốc vì bắt bớ, đến nay còn
thêu dệt liên miên, chưa chịu thôi cho.
Nay việc biến đã định, công án đã rõ, chính sách cải lương cho tốt đã
thi hành, mà chủ nghĩa của hai đảng, ai phải ai trái, người của hai
đảng, ai công ai tội, ai đáng ai oan, chưa thể chỉ định, đen trắn đều
không, hoặc quy cho là thuộc bất đắc chí, hoặc gán chung cho là thuộc về
vận động bên trong và vận động bên ngoài; ở nơi núi hoang đảo biển, các
chí sĩ gần như mất cả, nặng thì bị chết, nhẹ thì bị tù, dân ngu nuốt
nước mắt.
Tôi tuy đội ơn phóng thích, đem ở một nơi, cử động bị nghi ngờ, tâm
sự không nói được, lặng lẽ mà hổ thẹn vì người bạn bị chết [47]. Rõ ràng
là không biết lấy gì để đáp lại với người trong nước [48], trong thì bị
các quan của hai nước nghi [49], ngoài thì bị đảng phản đối cười [50],
cúi ngửa trong trời đất, không thể tự bao bọc thui thủi một mình, tuy
sống nhưng có lợi ích gì?
Than ôi! Một tấm lòng khổ, biết nói cùng ai, dưới có suối vàng trên
có trời. Biết được tôi, có phải là những dân tộc tiên tiến, ở châu Âu
chăng? Có phải là người nước Pháp dũng cảm, nghĩa hiệp, bác ái, bình
đẳng chăng? Tôi không muốn nói, nhưng làm sao không nói được?
6. Chân tướng của hai đảng
Nay bàn về đảng phái nước Nam, thì đều lấy việc vận động trong nước
và ngoài nước làm chân tướng, mà người vận động đều bị gom chung là bọn
bất đắc chí. Họ làm hàng ngày, nói về việc, thì coi là việc không đáng
quan tâm. Cho nên không lưu ý mà xem xét, không lấy công tâm mà phân
biệt, gọi chung bằng những lời bao quát mông lung, côi là những người vô
sỉ không đáng gì. Không lấy làm lại khi đem ra bắt bớ chém giết, khiến
cho không thể nương tựa vào đâu. Tuy nhiên, hang kiến làm vỡ đê, góp
lông làm gãy trục, việc ấy tuy nhỏ, nhưng quan hệ không thể khinh, cái
cơ hội Pháp Việt ly hợp, dân tộc nước Nam sống chết dứt nối, việc xử trí
ngày nay và ngày sau được hay mất, lợi hay hại, đều dựa vào đó mà sinh.
Nếu lại gia thêm nghiêm cấm, không ít người buông tay chuyên ủy cho
quan lại, chẳng kể đến sĩ phu, trong khoảng ân oán lại kềm chế quá lắm,
làm cho phải chạy xa trốn hiểm, phân tán bốn bên, gốc rễ chưa nhổ, thì
lông cánh của đảng ngày càng nhiều [51]. Nguyên nhân tạo ra đã sâu,
nhưng gặt quả đang còn ít [52]. Ngoài đầy trong khô kiệt, có chỗ hở thì
vào [53]. Rình mò chỗ hở, bị uốn lâu thì duỗi, tuy ngày nay đem người
tỏng nước làm thịt đi một nửa, nhưng lửa ngoài đông cháy chưa hết, gió
xuân thổi lại bùng lên, mối lo ngày sau, sẽ không biết dựa vào đâu.
Lặng nhớ cái đã qua, phỏng xét cái sắp tới, ngóng đường trước thăm
thẳm, sợ việc đời nguy ngập, nhỏ như tơ tóc, kẻ trí xét xem, lòng nói là
nguy, không thể không bảo cho biết. Nay xin đem bày tỏ tường tận nội
dung cùng phương châm bố trí của hai chủ nghĩa, cùng phẩm cách của người
phát khởi, lý do mà họ chủ trì, và lịch sử đầu đuôi cái gọi là bố trí
trong và ngoài nước, để bày tỏ cho nhà đương cuộc xem xét.
Nay đem trong cả nước giả chia làm hai đảng: một là đảng cách mệnh,
hai là đảng tự trị [54]. Người phát khởi đảng cách mệnh là Phan Bội
Châu, người phát khởi đảng tự trị là Phan Châu Trinh. Phan Bội Châu lấy
cách mệnh nổi bật ở nước ngoài, cho nên đảng cách mệnh có trong và có
ngoài; nhưng đảng tự trị không có trong và có ngoài [55].
Căn bản của hai đảng đều có chủ nghĩa. Lại sinh cành từ hai đảng, một
là đảng cách mệnh phụ hội, hai là đảng tự trị phụ hội. Hai đảng này
không có chủ nghĩa, không có bố trí. Nhưng nói về việc lừa người lấy
của, làm hại cho người nhiều, thì đảng cách mệnh phụ hội là hơn cả; còn
đảng tự trị phụ hội chẳng qua là nói cưòi mua vui, vô cớ mà mang họa.
Tuy nhiên, do nay mà xét, thì việc dân và binh biến lần này đều chịu tác
động của sách Phan Bội Châu; có thể nói làm hết chủ nghĩa của ông ấy
không sót điều gì. Tôi cũng là một người phát khởi ở trong nước [56].
Về sự xử trí của hai nước, thì đảng trong nước bị bắt không sót một
ai, không cần chú ý lắm; còn ở nước ngoài thì roi dài không với tới,
không biết làm sao. Cho nên Phan Bội Châu vẫn là nhân vật tối quan yếu
của nguyên động lực lần này. Và ngày nay xử trí Phan Bội Châu cũng là
vấn đề quan trọng hơn cả. Xin nói về Phan Bội Châu cùng cách xem xét,
phương châm bố trí của ông ấy.
Phan Bội Châu là người rất có chí khí, có nghị lực, nhẫn nhục, dám
làm; có điều tin vào thì không chịu bỏ, dẫu có sấm sét cũng không đổi
[57]. Nay sĩ phu khắp nước chưa ai có thể ví với ông ấy. Tiếc thay học
thuật không rành, thời thế không rõ, thích dùng quyền thuật, tự dối mình
dối người, ngoan cố không đổi [58]. Lớn lời không ai bì, hãm quốc dân
vào đất chết, cam chịu tiếng ác mà không tự biết [59]. Tuy nhiên, ông ấy
vừa hiêu hiêu tự cho là người yêu quốc dân, từ nay về sau ông ấy càng
hăng hái nói ra.
Lần này Phan Chu Trinh trước sau bị nghi, cũng là do lịch sử giao
thiệp với Phan Bội Châu. Nay xin đem những lý do mà ông ấy căn cứ và thủ
đoạn bố trí của Phan Bội Châu cùng lý do mà tôi chủ trương và những
cách bố trí để phản đối chủ nghĩa của ông ấy thuật lại từng điểm như
sau:
Chủ nghĩa phục thù cực đoan mà Phan Bội Châu chủ trương thật là hết
sức sai lầm, chỉ hãm quốc dân vào chỗ chết, không hợp thời thế, không
sát với lý luận. Tuy nhiên, nếu không biết nhân cách ông ấy cùng những
cớ ví sao ông ấy lợi dụng quốc dân, thì cuối cùng cũng không rõ ý kiến
mà tôi phản đối ông ấy. Bởi vì ông ấy là người đại biểu cho thói quen
trên lịch sử ngàn năm của dân tộc nước Nam. Không biết chân tướng người
nước Nam, xem ông ấy thì biết được. Dân nước Nam rất giàu tính bài
ngoại, thì bài ngoại của ông ấy đến độ cực đoan. Người nước Nam rất
thích dựa vào người ngoài, thì ông ấy ỷ ngoại đến chỗ cực đoan. Dân Nam
rất thiếu tính tự lập, ông ấy lại càng hơn nữa. Tính chất, trình độ của
ông ấy đều cùng hợp với tính chất, trình độ của quốc dân. Cho nên nhân
chỗ hơn chỗ kém của quốc dân mà lợi dụng; đó là điều mà thấy thuộc gọi
là thuật tắc nhân tắc dụng.
Cho nên điều mà ông ấy lo, là quốc dân oán nước Pháp không đủ sâu.
Những sách ông ấy viết ra, không bàn thời thế, không nói lợi hại, dựa
vào chỗ không mà biên soạn, tự dối mình, dối người [60]. Nói tóm lại,
đều là kêu gọi lòng thù ghét của quốc dân mà thôi. Đợi đến khi lòng thù
ghét đã sâu, phản loạn nổi lên bốn phía, ông ấy mới nhân đó mà vào, để
thỏa cái lòng phá hoại. Không phải là không biết cách mệnh không thể
làm, nhưng lợi dụng cái ngu của dân - tức tính bài ngoại, không làm thì
không chịu. Không phải là không biết Nhật Bản chẳng làm gì được, nhưng
lợi dụng cái yếu của dân - tức tính ỷ ngoại, không làm thì không chịu.
Mà quốc dân sở dĩ mù quáng nghe chạy theo, đến chết chưa tỉnh, ấy là vì
tính chất gần nhau, cho nên thâm nhập khá sâu.
Đó là ý kiến và thủ đoạn của Phan Bội Châu mà thôi. Cho nên người
không biết ông ấy, thì bảo đó là người hết sức ngu lầm, chứ không biết
ông ấy lợi dụng cái ngu của quốc dân để khoe cái trí của mình, lợi dụng
chỗ kém của quốc dân để làm rõ cái hay của mình. Than ôi! Không biết cái
ngu, cái kém mà làm thì cũng có thể thứ cho. Biết cái ngu, cái kém, cái
không địch lại mà cứ muốn lợi dụng để thi hành chí mình, thì ta không
biết ông ấy đã cư xử theo cách nào [61]. Than ôi! Từ nay về sau ta mới
biết cái độc ác của bát cổ - Ông ấy chưa hoàn toàn thoát khỏi mặt mũi
của bát cổ, không chỉ đủ làm mất nhà, nước của người, mà còn hiện hình
biến tướng đến giết hết cả giống nòi mà chưa thôi. Nếu không vậy thì sao
có kẻ tự xưng là chí sĩ, tự xưng là tiên giác [61] của người trong
nước, nhưng mình thì đứng ở nơi an toàn không lo gì, mà quăng bậy vô số
thuốc nổ cháy mạnh trước kẻ đui mù, lìa chân đứt gối chẳng chút động
lòng thương xót?
Nhưng vì sao tôi làm bạn với ông ấy? Bởi vì vào thời đại bát cổ, ông
ấy rất nổi tiếng, được người trong nước phần nhiều sùng bái [62]. Vả lại
ông ấy là người can đảm dám làm, không tiếc thân mình. Cho nên tôi muốn
cùng hợp nhau hết lòng đề xướng việc trong nước, mong có thành chăng.
Trong khi nghị luận, chủ nghĩa mà ông ấy chủ trương, tôi đã đem sự lợi
hại, được mất phân tích không sót chút nào; lúc bấy giờ ông ấy cũng nhận
là phải thay đổi chính sách và đòi tự trị.
Nhưng vì sao tôi làm bạn với ông ấy? Bởi vì ông ấy là người khẳng
khái dám làm, không tiếc thân mình, sức tự tin rất sâu. Người nước Nam
chưa thấy ai có thể sánh với ông ấy, đó là chỗ hơn của ông ấy. Nhưng
lòng dạ quật cường, thung dung tự đắc, mờ vì thời thế, dám giết người,
xem người không ai bằng mình. Đó là chỗ kém của ông ấy. Vả lại ông ấy
rất nổi tiếng thời khoa cử, nhưng lúc bấy giờ tôi đều coi ông ấy là ngu
cuồng, mà không người nào biết. Vả lại, giữa chủ nghĩa bạo động mà ông
ấy chủ trì, cùng chủ nghĩa cậy Pháp tự lập mà tôi chủ trì, khi cùng đem
ra nghị luận, phân tích lợi hại được mất không sót chút nào, chính ông
ấy cũng xem chủ nghĩa của tôi là đúng [64]. Cho nên muốn làm bạn với ông
ấy, mượn tên ông ấy, lợi dụng chỗ hơn, bẻ gãy chỗ kém, cùng nhau bày tỏ
với chính phủ Pháp để đề xướng việc quốc dân, hoặc có thành chăng. Vả
lại ông ấy tự biết chủ nghĩa của ông ấy riêng tôi đủ sức để phá, chon
nên hết sức liên hiệp. Tôi cũng biết chủ nghĩa của tôi đủ sức để phá,
cho nên hết sức liên hiệp. Đó là bắt đầu làm bạn, tiếp đó lại là thù.
Nhưng vì sao ông ấy ra nước ngoài? Theo lời ông ấy nói thì: Lúc đó
thật chưa có chủ nghĩa [65]. Đến khi nghe quan Pháp sắp bắt mà trị tội
[66], ông ấy tự biết khẳng khái không chịu nhục được ắt chết, phải tránh
đi, nhưng chưa biết đi đâu. Đến khi nghe chiến tranh Nga - Nhật, thì
đặc tính bài ngoại và ỷ ngoại của ông ấy mới bồng bột vùng dậy. Vừa lúc
gặp Tăng Bạt Hổ từ nước ngoài về, dắt ông ấy cùng đi. Ông ấy bèn hết
sức khuấy rối Pháp, không từ việc gì [67].
Nhưng vì sao tôi đuổi theo ông ấy ở nước ngoài? Lúc đầu tôi nghe ông
ấy đi, thì tin rằng tấm lòng ông ấy là do bất đắc dĩ, vì cớ trong nước
không có nơi dung thân mà chạy ra nước khác, đó là thế tất nhiên. Thế
nhưng ở nước ngoài và xướng du học thì được ở nước ngoài mà xướng cậy
Pháp tự lập thì được, nhưng cần gì có việc bạo động ấy? Đến khi được
thấy sách Vong Quốc Sử do ông ấy viết, điên lầm vô lý, sau đó
mới biết tấm lòng cuồng bạo lúc ban đầu của ông ấy rốt cuộc chưa chết.
Nhưng lại nghĩ rằng ông ấy lúc ở trong nước bị cái học khoa cử lừa dối,
cho nên hết sức chủ trương bạo động, nay đã ra nước ngoài kiến thức ngày
càng rộng, học vấn ngày càng sâu, thấy rõ đại thế của thế giới, thì
cũng bỏ cái mê mộng về bài ngoại và ỷ ngoại đi mà nghĩ chuyện trở về.
Đến khi thấy rất nhiều sách sai lầm được đưa về trong nước truyền bá ý
kiến của ông ấy, nói rõ lòng dạ của ông ấy, thực hành cái ý chí của ông
ấy, người nước Nam không ai là không đi theo. Tôi tự biết những lý do mà
chủ nghĩa của ông ấy nêu ra thì rất yếu, nhưng đem thi hành với đặc
tính người nước Nam thì rất mạnh. Còn chủ nghĩa của tôi, lý do nên ra
thì rất mạnh, nhưng đem ra thi hành với đặc tính người nước Nam cùng
trong thời thế hiện tại của nước Nam thì rất yếu.
Chủ nghĩa của ông ấy rất hợp với tính chất trình độ của quốc dân,
nhân chỗ mạnh mà lợi dụng, nhờ ở nước ngoài ngôn luận tự do, người nghe
theo cũng dễ, cho nên chủ nghĩa ông ấy ắt thắng. Chủ nghĩa của tôi tương
phản với tính chất và trình độ của quốc dân, nhân chỗ kém mà cứu, lại
vì ở trong nước, vì thế lực đè ép, nghi kỵ dồn vào, cử động ngôn luận
đều không được tự do, người theo cũng khó, cho nên chủ nghĩa tôi ắt bại.
Ấy sở dĩ tôi bỏ chết quên sống trốn ra nước ngoài lý luận với ông ấy
bác cái ngu, phá cái lầm lạc, lấy cái khổ của quốc dân phải từ vong,
mong cho ông ấy thương xót quốc dân mà thay đổi hẳn đi; lấy tình bạn
ngày xưa để làm động lòng, mong ông ấy vì yêu tôi mà không đến nỗi chủ
trương phản đối để làm hỏng chủ nghĩa của tôi. Không ngờ ông ấy ngoan cố
không chịu phục, giữ vững chí mình, không chút động lòng nhân, tôi từ
đó mới chia tay quay mặt nơi chân trời. Không nghĩ đến trở về nước, ông
ấy thi hành chí của ông ấy, tôi thi hành chí của mình. Rốt cuộc, hai chủ
nghĩa phản đối nhau cũng theo đó mà nổi lên.
Nhưng vì sao tôi không ở nước ngoài mà xướng du học? Chí của tôi là
liên hiệp với Pháp. Khuyên người ta ra nước ngoài du học, trở về mà nước
Pháp không dùng, thì học tuy nên mà không bổ ích cho nước. Đó là một
lẽ. Vả lại, nước Nam vừa mới tỉnh mộng trí dân chưa mở mang, người có
của chưa hẳn có chí, mà người có chí chưa hẳn có của. Nếu muốn khiến
người có chí cùng người có của liên hiệp mà giúp vào, không kể người có
của ắt phải chịu đưa ra, ắt không dám đưa ra. Phải đưa của ra, một khi
việc xảy đến, họa sẽ tới với người có của, người kia đã mất của lại mang
họa vào thân. Làm việc mà luỵ đến người, tôi tuy chết cũng không làm,
đó là hai lẽ. Cho nên không phải là không chủ trương việc du học, mà ắt
phải đợi sau khi Pháp Việt liên hiệp đã. Đó là cái chí của tôi.
Nhưng vì sao tôi không ở nước ngoài mà xướng Pháp Việt liên hiệp? Đã
gọi là chí sĩ thì không sợ chết. Tôi có chủ nghĩa, thì phải thực hành,
sống chết vì nó. Nay vì cớ sợ chết, trốn ra nước ngoài, sau đó mới xướng
ra, thì ai chịu tin mà theo? Đó là một lẽ. Đã xướng liên hiệp với Pháp,
mà tôi vì cớ sợ chết trốn ra nước ngoài, ắt những kẻ tự gọi là chí sĩ
trong nước đều bắt chước việc làm của tôi, đều ra cả ở nước ngoài, thì
còn ai trong nước mưu việc liên hiệp? Đó là hai lẽ. Vả lại, vì nước Pháp
có lòng nghi kỵ rất sâu, ở trong nước còn muốn giết hết, huống hồ ở
nước ngoài mà xướng, nước Pháp lẽ nào tin lòng mà chịu nhận cho? Đó là
ba lẽ. Đó là vì sao tôi phải trở về trong nước, không ở nước ngoài.
Lại có một vấn đề quan yếu, không thể không làm sáng tỏ ở đây. Đó là
vấn đề tôi đắc chí hay bất đắc chí. Phan Bội Châu vì thi hỏng mà chạy
sang Nhật Bản, cho nên kẻ bàn luận cho là người bất đắc chí [68]. Vì tôi
từ quan tại Kinh mà xướng tân học, thì tôi cũng là một trong những
người bất đắc chí. Vì tôi từ nhỏ đến lớn, từ khi vào học cho đến khi
thi đậu, làm quan, không có ai biết mình, mà cũng không có lúc nào đắc
chí. Ấy là nhỏ ở nhà, nói ra những lời bi thời mẫn thế, anh em cho là
ngu cuồng, hơi lớn đi học, làm văn bi thời mẫn thế [69], thầy học cho là
ngu cuồng. Đến khi thi đậu ra làm quan, thường thốt ra những lời bi
thời mẫn thế, quan bộ trưởng và các bạn làm quan cho là cuồng ngu hoặc
hỏi cớ sao lại ngu cuồng như thế, mà tôi cũng không tự biết, chỉ cười và
vui vẻ nhận lấy mà thôi.
Đó là chân tướng của tôi vào thời đại khoa cử vậy. Đến ngày có sách
mới (tân thư) mà đọc [70], thì thích lắm, nói: "Đây chính là thói hữu
dụng của kẻ ngu cuồng. Ta đem cái chí ngu cuồng của ta, thi hành kiến
thức ngu cuồng của ta, chưa hẳn không tí có ích cho quốc dân". Mặt khác,
kẻ đắc chí ngày nay, không phải là cái học chuyên môn, không phải là
cái có cái tài chính pháp luật, mà họ đắc chí như vậy. Vả lại, tôi ở hai
năm tại Bộ Lễ, cái thuật đắc chí, cái tài đắc chí, cái vinh đắc chí của
người khác tôi đều biết và không phải không bắt chước được. Nhưng cái
chí của tôi không ở đó. Vả lại cũng không phải riêng không thích làm
quan mà thích bị tù, thà bị trói buộc nơi hải đảo, làm người lìa làng xa
xóm, bị người ta đánh đập chửi bới, chứ không muốn ngồi ngựa xe, dắt
thê thiếp, khoe khoang với bạn bè để tự nói mình đắc chí. Cho nên nay
người Nam đều cho tôi là ngu cuồng, nhưng nếu lấy người Pháp bác ái bình
đẳng mà xem, hoặc không đến nỗi người ta nói thì mình cũng nói thế. Tuy
nhiên, nay những người định án đều lấy đắc chí và bất đắc chí để định
ai công ai tội, thì không lại gì kẻ đắc chí được đưa lên chín tầng trời,
còn kẻ bất đắc chí thì bị rơi xuống chín lần vực thẳm, mà đến nay còn
chưa chịu cứu vớt. Đó là điều tôi muốn nói không thôi.
(còn tiếp)
_________________________
[45] Nc: "Phan Bội Châu lúc đầu chủ trương chủ nghĩa bạo động. Đến
năm Quý Mão (1903) tại Kinh, lúc cùng gặp nhau, thì bị tôi bác. Lúc đầu
cùng nhau mưu họp các cống sĩ dâng thư xin bỏ khoa cử, sửa đổi chính
sách, chế độ cai trị. Tôi cùng Vũ Phương Trứ chạy vạy mấy này. Lúc bấy
giờ, sĩ phu mê mộng vì khoa cử chưa tỉnh, ít có người theo. Bội Châu
nhân thi hỏng không chịu ghi tên, việc mới thôi. Ông bèn bỏ mà đi Nhật
Bản. Từ đó về sau mới chia thành hai đảng. Tôi cùng Bội Châu biết nhau
bắt đầu từ đó. Vì tôi thấy Bội Châu thì biết học thức chưa đủ, có chí
khí, sức tự tin rất vững mạnh, dũng cảm, rất có tiếng vào thời đại bát
cổ, được sĩ phu trong nước sùng bái. Nếu được hợp sức ở trong nước mà
kêu gọi quốc dân thì việc ắt phải nên. Nếu ông ấy ra nước ngoài, thì sức
có thể phá chủ nghĩa của tôi, cho nên tôi hết sức liên hiệp với ông ấy.
Bội Châu cũng biết chủ nghĩa mà ông ấy chủ trương sức tôi đủ phá được,
cho nên cũng hết sức dụ tôi. Sự giao thiệp của hai người bắt đầu từ đó.
Sau, tôi không từ hiềm nghi, không kể hiểm trở, lúc thì đi xa ra nước
ngoài, lúc thì giải tán đảng trong nước, trước là bạn, sau là kẻ địch.
Hoặc lúc thì vào trong đảng ông ấy, lúc thì ra ngoài đảng, ngàn biến
trăm hóa, không thể phân biệt. Ngu cuồng của tôi ở tại đó; tôi bị thất
lại vùi trong đất, chẳng còn được chút gì cũng là do đó".
[46] Nc: "Người bạn bị chết của tôi, tiến sĩ Trần Quý Cáp, học thức
rất sâu, chủ nghĩa rất rõ, phản đối chủ nghĩa bạo động cũng hết sức.
Từng viết bài "Tự trị luận" để bác Phan Bội Châu. Không hiểu vì cớ gì mà
bị giết ở Khánh Hòa. Than ôi! Thương thay!".
[47] Nc: "Tôi khuyên người trong tỉnh lập nhiều trường tiểu học, lập
hội nông phố. Nghe nói sau khi dân biến nổi lên, hễ nơi nào có trường
học, có hội nông đều có lính tập đóng giữ, phần lớn bị hành hạ".
[48] Nc: "Quan Pháp quan Nam cho đảng tôi là giặc chống lại nhà nước".
[49] Nc: "Tôi từ Hương Cảng trở về, chủ trì chủ nghĩa tự trị: Phan
Bội Châu đưa thư về, nói: Ngày sau nếu thất bại, hãy nghĩ đến lời tôi."
[50] Nc: "Nghe nói việc biến lần này, vì cớ bị tù bị giết, trong nước chạy ra nước ngoài rất nhiều, nhưng chưa biết con số".
[51] Nc: "Lần biến này là nhỏ đó".
[53] Nc: "Nghe nói lần biến này, sĩ phu đều bị bịt miệng, còn đảng ở
nước ngoài, nhờ được nghị luận tự do, lại trở về trong nước, thế họ rất
rõ".
[54] Nc: "Lúc bấy giờ thực sự chưa thành đảng, chỉ hai chủ nghĩa tranh nhau mà thôi".
[55] Nc: "Tôi là người Quảng Nam. Tỉnh tôi do tôi chủ trì, cho nên
không có ai ra nước ngoài. Nghe nói việc biến lần này nổi lên. Trần Quý
Cáp đã chết, cho nên học trò mới bắt đầu chạy ra nước ngoài".
[56] Nc: Dụ lính tập, xem Vong quốc sử. Dụ lính và dân khiến phản đối, xem Hải ngoại huyết thư.
[57] Nc: "Chủ nghĩa bạo động do ông ấy chủ trương nhiều lần bị tôi
bác bỏ, cho nên không thích đi lại với tôi. Năm Quý Mão (1903) gặp nhau
hai lần tại Kinh, sau tìm tôi tại nhà không gặp. Lúc tôi với ông ấy biện
luận với nhau ở Hương Cảng, ông ấy đã cạn lời, chỉ biết khóc mà thôi.
Tôi yêu ống ấy là bởi đó".
[58] Nc: "Ông ấy thủ cựu quá lắm. Sách mới (tân thư) đều không xem.
Cho nên những sách ông viết ra, không dựa vào lý luận, không xem xét
thời thế, lúc thì chửi tràn, lúc thì khóc rống, xét thật mà xem, toàn là
văn chương biến tướng của nhà bát cổ, không có một chút giá trị, riêng
thích hợp với trình độ, tính cách của quốc dân, cho nên bị ngu theo".
[59] Nc: "Nghe nói việc dân và binh biến lần này thật chẳng khác gì
việc tự sát của ông ấy. Chẳng những nước Pháp coi ông ấy là giặc nghịch,
mà dân luật nước Nam xét công tội cũng thêm cho ông ấy tiếng giặc
nghịch. Ông ấy cũng không từ chối, cho là đúng, nhưng vẫn hiêu hiêu cho
là ta yêu nước. Thật là ngu quá lắm".
[60] Nc: "Như sách Vong quốc sử nói việc bán trời. Sách của ông ấy toàn nghị luận theo kiểu đó".
[61] Nc: "Nhưng ông ấy cũng có chỗ không làm".
[62] Tiên giác: Người tỉnh thức trước ở trong đám mê mộng.
[63] Nc: "Tôi với ông ấy quen biết nhau tại khoa thị hội năm Quý Mão (1903)".
[64] Nc: "Tôi và ông ấy quen nhau bắt đầu vào năm thi hội Quý Mão.
Khi thấy thì biết ngay là kẻ sĩ có thể làm được việc. Đến khi cùng nhau
nghị luận, mới biết chỗ gãy của ông ấy là từ đó. Cho nên tôi muốn cùng
ông ấy hợp tác với các sĩ phu dân thư xin bỏ khoa cử, ông ấy cũng cho là
phải. Tôi và Vũ Phương Trứ chạy vạy mấy ngày, việc sắp thành. Đến khi
ông ấy thi hỏng, thì không chịu đứng tên, sĩ phu cũng không chịu, vì lúc
bấy giờ sĩ phu rất tin ông ấy. Vũ Phương Trứ cũng hỏng thi".
[65] Nc: "Ông ấy cho rằng chủ trương chủ nghĩa chống lại Pháp, sức ắt
không chống lại, mà phải chết; muốn chủ trương cậy Pháp tự lập, thì lại
không được Pháp chịu. Đời chết, chi bằng hãy làm điều mà lòng mình tin.
Do đó ông ấy hết sức xướng bạo động mà không hối".
[66] Nc: "Năm Quý Mão hai lần bị theo bắt; lần trước bị hỏi rồi thả ra, lần sau bắt không được, đó là sự thật".
[67] Nc: "Ông ấy ra nước ngoài thật là vào tháng tư năm Giáp Thìn (1904), ông ấy tự nói".
[68] Nc: "Người ta đều bảo Phan Bộ Châu vì bất đắc chí mà xướng cách
mệnh, là sai. Tức như Pháp có dùng ông ấy làm lớn, chưa chắc ông ấy đã
phục tòng, vì đặc tính của ông ấy là thế. Sách mới: Dịch chữ Tân Thư, tức những sách của phương Tây mang tư tưởng dân chủ tư sản như Khế ước xã hội (Contrat social) v.v...
[69] Nc: "Phàm văn mà tôi làm thường ngày, không câu nệ bát cổ; thơ phú đều do từ những lời buồn thương".
[70] Nc: "Do Đào Nguyên Phỏ tặng năm Nhâm Dần (1902)"