Dân Luận: "Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam" (hay Nước Việt Nam Mới sau khi Pháp - Việt liên hiệp) là tác phẩm của Phan Chu Trinh còn ở dạng bản thảo chưa hoàn chỉnh, được viết vào khoảng 1913-1914. Trong tác phẩm này người ta có thể thấy Phan Chu Trinh phê phán con đường bạo động của Phan Bội Châu rất dữ dội. Những phê phán của ông nếu suy rộng ra có thể áp dụng được cho cả con đường cách mạng của Hồ Chí Minh. Và giờ đây, khi Việt Nam tiếp tục đi tìm con đường tiến tới văn minh và dân chủ, phải lựa chọn giữa bạo động và bất bạo động, những quan điểm của Phan Chu Trinh vẫn tiếp tục còn giá trị. Chúng ta nghe văng vẳng đâu đây lời của ông, như thể ông đang bàn về thời sự Việt Nam năm 2013 vậy!
Dân Luận xin gõ lại tác phẩm này từ Tuyển Tập Phan Chu Trinh (tập III), do Nhà Xuất Bản Đà Nẵng xuất bản năm 2005 để giới thiệu tới độc giả.
1. Lịch sử giao thiệp của dân tộc Việt Nam[1] với Trung Quốc
Nước Việt Nam ta ở hơi về phía nam của Á Đông. Địa hình một dải hơi
dài. Lấy toàn hình thế của Á Đông mà nói thì Trung Quốc là nửa trên của
thân người, còn Việt Nam thì như tay mặt buông xuống. Dân tộc ta, vài
ngàn năm trước, tự sinh tự nảy nở ở lưu vực hai bên Tản Viên Nhĩ Hà [2],
như người trong nguồn đào [3], không biết có đời Hạ đời Thương, không
kể tới nước Đường, nước Lỗ[4,5]
Từ khi Tần Thủy Hoàng [6] lấy cái chí bao quát vũ trụ, cái dư oai
thống nhất sáu nước, cuộc chiến mở rộng, trời long đất lở, mới đem đất
đai, nhân dân xưa gọi là Giao Chỉ [7], nay gọi là năm tỉnh Bắc Kỳ do tổ
tiên xa xưa của dân tộc ta đã tất bật lam lũ, gian nan cùng quẫn để xây
dựng, mở mang, lấy làm căn cứ, mà đặt dưới quyền lực thống trị của Trung
Quốc. Từ đó, đã được hơn một ngàn năm trăm năm.
Cảm tình, thủ đoạn của dân tộc ta đối với thời bấy giờ thì như thế
nào? Tuy từ lúc bấy giờ dân tộc ta vừa thoát khỏi trình độ dã man, mới
dựng hình thức sơ khai của quốc gia, chẳng biết cái chủ nghĩa dân tộc mà
ngay nay châu Âu nói nhiều, nhưng cái chủ nghĩa dân tộc vốn có gốc ở
tính Trời, không kể là dã man, là bán khai, là văn minh, nói chung đều
có đặc tính ấy. Tổ tiên ta, không biết mấy ngàn, trăm năm năm nay đã tất
bật lam lũ gian nan cùng quẫn để xây dựng, mở mang, lấy làm căn cứ cho
có nơi trú ẩn. Cũng là muốn ta tự sinh tự nẩy nở cho tới con tới cháu,
rồi con cháu cũng làm như vậy; rồi từ nay về sau con cháu ta được ca ở
đó, khóc ở đó, tụ tập ở đó, sinh trưởng ở đó. Nhưng do ý nào, từ hai bên
lưu vực sông Hoàng Hà, Dương Tử [8] Trung Quốc đã lấy không biết bao
dân tộc nào mà cậy mạnh hiếp yếu, tham lam không chán, vô cớ mà xâm
chiếm đất nước người ta, vô cớ mà tàn sát sinh mạng người ta, vô cớ mà
trói buộc nhân dân người ta, vô cớ mà bóc lột máu mỡ người ta [9]. Ví
như trong một nhà, bọn người tham lam cậy sức mạnh đoạt bát canh chén
cơm của người nghèo yếu, ăn tươi nuốt sống, nhậu nhẹt no nê, ngất ngưởng
cao ngồi, hát ca phè phỡn; mà con em trong nhà thì ru rú ở một góc, đặt
giấu ở trong ngôi nhà tối, roi vọt không đoái, hát khóc không nghe, đói
lạnh không hỏi. Than ôi! Con người không phải là gỗ đá, tính ấy làm sao
chịu nổi? [10]
Dân đời trước của Tổ quốc ta lúc bấy giờ cũng quật cường vĩ đại, trăm
lần bẻ không cong, chẳng như một động vật ngu si không xương, không
máu, không não, khí, gân. Cho nên các thủ đoạn đối đãi cũng rất kịch
liệt: Hoạc khi nó lành thì ta phục tùng, khoặc khi nó dữ thì ta phản
đối, khi ta thua thì nó ra tay chém giết chẳng chịu buông tha, khi ta
thắng thì máu sông xương núi lấy đó báo phục. Tuy nó từ cao xuống thấp
như thế vạc ba chân, lấy lớn hiếp nhỏ như hình đá chọi trứng, khiến ta
không thể thoát ngay sự ràng buộc, và nó lấy cớ lớn mạnh trị ta quá dữ,
kềm ta quá gắt, cách mệnh nổi lên luôn, giết hại quá nhiều, mà cảm tình
oán hận được nung đúc trong não quốc dân không thể phá được, càng truyền
càng lớn, càng thịnh. Nhưng dân tộc ta cũng càng lấy đó mà khuyến khích
đặc tính, nuôi dưỡng tinh thần, ngầm dựng thế lực, không chịu khuất
phục, càng thêm gắng gổ, thề lấy mạng sống lấp nơi đồng ruộng, lấy máu
đỏ bôi cả núi sông, để bày ra cái cảnh đau buồn sống động rất thảm rất
mạnh, với dân tộc Trung Quốc ngàn trăm lần to lớn không thể sánh, cùng
nhau xung đột đua tranh trong cảnh thiên diễn ưu thắng liệt bại này. Nó
chết ta sống; nó tiến ta lùi. Kể từ sau trước được trên ngàn năm, nó
cũng không làm gì được ta là vì sao? Rốt cuộc do cái loạn thời Ngũ quý
[11], lúc giao thời của Chu Tống [12], binh lực không sửa sang, roi dài
chẳng với tới, mà quân cách mệnh của Đinh Tiên Hoàng, với trống tự do,
cờ độc lập, bỗng nhiên xuất hiện ở động Hoa Lư. Và cùng với đặc tính và
giá trị dân tộc của Nam Việt ta, vào lúc ấy đã xuất hiện khẩu hiệu ngàn
năm trước đây.
Ôi! Xứ Giao Chỉ con con, một vùng đất nhỏ không bằng một huyện lớn,
mà xem nó ngang hàng, muốn đuổi nó đi. Mấy vạn của dân tộc hùm sói Trung
Quốc, không đoái hoài đến văn minh hay dã man, không kể mạnh yếu, liều
chết mà giành, không chịu lùi một chút, cuối cùng có thể thắng được,
giành giật sinh tồn cho đến ngày nay, ngang nhiên là một nước lớn ở
phương nam! Than ôi! Trời thương chăng? Thần giúp cho chăng? Không thể
bàn bạc được, không thể quy công cho ai. Thì lớn lời nói: Đó chỉ là đặc
tính trầm nghị kiên nhẫn, độc lập bất khuất của dân tộc đời trước của Tổ
quốc ta mà thôi! [13]
Dân tộc ta, ngàn năm trước đây đã có cái đặc tính vĩ đại kia, như lấy
học thuyết hoạt bát ngày nay của Châu Âu phê bình khuyến khích làm cho
lớn mạnh, mở mang tìm tòi làm cho rạng rỡ, thì tiền đồ dân tộc ta tốt
lắm thay! Chẳng ngờ từ đó càng về sau lại càng quá lắm, càng diễn ra lại
càng sai. Đã lầm ở thuật cai trị, lại lầm về văn học, về ngoại giao,
chìm chìm đắm đắm cho đến ngày nay rơi xuống vực, không thể tự kéo lên.
Ôi! Đó là lỗi của ai? Lỗi của ai?
Đinh Tiên Hoàng đã sáng lập sự nghiệp vĩ đại muôn đời nghìn thuở kia,
bên trong chỉ trông vào thế lực nước mình làm chính. Như bọn nó cuốn
đất mà lại, thế của ta không có gì mà chống, do đó mới có thủ đoạn ngoại
giao để làm phương châm đối phó: giáo mác vừa yên, ngọc lụa lại tới.
Một là để gỡ mối nhục của kẻ kia mất đất, hai là để giấu cái oai đắc
thắng của ta, khiến cho cảm tình được mất của dân tộc hai nước đều tiêu
tan trong cảnh vuông tròn của nơi hội họp thề bồi; khiến cho ta có thể
thung dung ngày tháng kết hợp đoàn thể, sửa sang binh bị, thi hành thuật
trị dân, sắp đặt chính phủ để xác định cơ sở dựng nước. Than ôi! Dân
đời trước của Tổ quốc ta có bàn tay khéo léo, nhãn quan sâu sắc, quy mô
xa rộng, thật là đáng ca, đáng thán, đángk ính, đáng yêu, đáng sùng bái,
chẳng còn gì hơn thế nữa. Những điều ấy thật là nhà bát cổ [14] đời sau
đi đứng theo phép tắc, giá áo túi cơm, khó mà mơ thấy được. Thế thì
phải chăng dân đời trước lấy đó làm công tích mà đời sau lại lấy đó làm
bại vọng, thì thật buồn lắm thay [15]...
Từ đó mà Tiền Lê, mà Lý, Trần, Lê cho tới triều ta [16], đều lấy
chính sách đó để đối phó với Trung Quốc, tức là kế viễn giao cận công
[17]. Cho nên không có mối lo ngóng về phương Bắc, nhân đó lấy binh lực
làm việc ở phương Nam và diệt Chiêm Thành [18], lấy Chân Lạp [19]. Dân
tộc ta lấy sức bên trong mà bành trướng, mới sinh sôi nảy nở ở một vùng
duyên hải phía Nam, mà Cao Miên, Ai Lao [20] đều ở dưới thế lực của dân
tộc ta, đến nay chiếm được một mảnh quốc thổ trên bản đồ địa cầu, đều
nhờ vào chính sách ngoại giao ấy [21].
Không ngờ đời sau hiểu lầm điều quan sát ấy, chỉ cậy bên ngoài, binh
bị không giảng, nội chính không sửa sang, cho ngọc lụa quý hơn thành
trì, lấy ỷ lại làm điều phải của nước; còn Trung Quốc nhân đó mà tới,
mang bộ mặt giả dối để thầm lén làm điều âm hiểm. Cho nên bọn Minh lúc
đầu thì lấy tiếng khôi phục nhà Trần để biến nước ta thành một huyện,
cuối cùng thì giúp nhà Mạc làm loạn, ủng hộ bề tôi giặc của người; Thanh
thì giả đò giúp vua Lê mà thầm làm việc chiếm cứ, binh thua xấu hổ, bắt
giam vua tôi ép buộc cắt tóc, chẳng có lương tâm gì. Trên dưới một ngàn
năm, khiến người nổi giận khôn cùng. Đến thời cuối triều ta, nhìn kỹ
chẳng thấy, còn theo vết xe đổ, không nghĩ đến tự lập, gặp gỡ Bắc Triều,
kêu gào chạy vạy, cậy vào như non Thái; bỗng gặp giặc Pháp mạnh, phải
vứt khí giới mà trở về. Không như vậy, lại sợ hùm nịnh sói, bị người chà
đạp còn dâng thịt cho ăn, nói mà đau lòng.
Ngày nay, có kẻ danh sĩ trong nước, tự phụ yêu nước, chẳng biết đem
hết sức ở trong mà đề xướng quốc dân, không có phương châm gì, chạy bậy
ra nước ngoài, như sư tử ngủ mê không có sức, tô vẽ non sông để theo kẻ
quyền mạnh, nói năng bậy bạ, không để ý tới lợi hại, kíp muốn mời một
nước thứ ba miệng Phật lòng rắn, chẳng có đạo người, đem cả tính mệnh mà
giao kết cho thì sau mới thấy làm thích [22]. Chẳng biết rằng nước kia
đã không có sức thì để đó không hỏi, còn nếu nó đã có sức thì đợi gì ta
cầu. Thử xem Triều Tiên, liên Nga liên Nhật, đảng phái rộn rịp, rốt đến
ngay nay giết hoàng hậu cầm ngục vua, tù tội liên miên, chém giết không
thôi [23]. Cầu đã được đó, lợi thì ở đâu? Lại không như dân trí nước ta
chưa mở mang, ỷ lại thành tính, anh chột xướng lên, anh mù hưởng ứng như
sấm, khác nào những con ngài bay vòa lửa, vứt bỏ cả tính mạng, thành
cháy vạ lây, người trong nước vì tội gì mà chịu sự thảm độc ấy?
Than ôi! Tính căn ỷ lại mấy trăm năm chưa phá bỏ, thì tính mạng của
hai mươi triệu người ngu dại làm sao còn đến ngày nay? Thế mà còn chẳng
xác định đem hết sức mưu sự sống còn, còn phân vân chưa quyết, thúc giục
mà không đi tới. Tôi sợ vài chục năm sau, ắt có kẻ bát cổ biến tướng
[24] tự gọi là yêu nước, nắm lấy cái thuyết Trung Quốc từng bảo hộ nước
ta dựng nên bức tường thành, lấy làm tiền đề để kêu gọi quốc dân. Mà
quốc dân ta chìm đắm đã sâu, mê mộng chưa tỉnh, nghe thuyết ấy thì liều
chết khôi phục. Nhưng hai kẻ thua đều bị thương, chỉ khiến cho người
khác ngồi hưởng cái lợi của ngư ông. Ngoài nhìn về sau vời vợi, sống
chết như treo trên sợi tóc. Cơ hội một khi đã qua đi, thì không trở lại.
Hỡi người nước Đại Pháp, là dân tộc lớn tiên tiến của châu Âu! Thương
ghét không chừng, dễ như trở bàn tay, các người có thể suy tấm lòng
nghĩa hiệp bác ái kia mà cho người Nam chúng tôi một nẻo đường sống hay
không? Hỡi người Nam ta, cần phải bỏ cái tính ỷ lại Trung Quốc mới có
thể sống còn trên thế giới của thế kỷ hai mươi. Trầm ngâm thẫn thờ, râu
tóc thưa dần. Than ôi! Tuy không muốn nối nhưng không nói làm sao được?
[25]
2. Lịch sử giao thiệp giữa nước Nam và nước Pháp
Nước Pháp từ khi bắt đầu giao thiệp với nước Nam cho đến hiện nay đã
trên 60 năm. Tựu trung chia làm hai thời kỳ: Một là thời kỳ thế lực phạm
vi, hai là thời kỳ thế lực xác định [26]... Và chính sách, phương châm
cũng tùy lúc mà thay đổi.
Thời kỳ trước thì dùng chính sách nâng đỡ mở mang; thời kỳ sau thì dùng chính sách thống trị chuyên chế... [27]
(còn tiếp)
__________________________________
[1] Việt Nam: Trong di cảo, tác giả dùng từ Việt Nam, không dùng từ
An Nam. Có nơi dùng từ Nam Quốc (thay cho Việt Nam), thì chúng tôi dịch
là "nước Nam" hoặc dùng từ Nam Việt để chỉ Việt Nam thời cổ đại (Triệu
Đà hoặc sau đó).
[2] Tản Viên Nhĩ Hà: "Tản Viên": Ngọn núi cao ở Bắc Bộ, thuộc tỉnh
Sơn Tây, tục gọi là núi Ba Vì. "Nhĩ Hà": Cũng gọi là Nhị Hà, tức sông
Hồng, con sông lớn nhất Bắc Bộ.
[3] "Nguồn đào": Đời Tấn, tại huyện Vũ Lăng, có ông chài chèo thuyền
dọc theo khe, thấy có hoa đào trôi trên mặt nước, nghĩ thầm chắc ở đây
có dân cư. Thuyền đi mãi, qua đến một nơi có người ở khá đông, ăn mặc
theo lối đời nhà Tần. Hỏi thì họ bảo lánh nạn hà khắc của Tần Thủy Hoàng
di cư đến đây đã được mấy đời rồi. Ngư phủ chèo thuyền về thuật chuyện
lại với mội người, nhưng sau trở vào tìm lại chốn cũ không được nữa.
Người ta ngỡ ông chài ấy đã lạc vào cảnh tiên.
[4] Nc: "Xét người nước ta, tuy cùng là giống da vàng, nhưng tự sinh
tự phát triển riêng ở phía nam Á Đông, giao thiệp gần gũi với Trung
Quốc, thật từ đời Tần, Hán. Từ đó hai giống giao dịch, mới trở thành dân
tộc hiện nay nhưng nói rút lại thành một thứ tình đặc biệt phát hiện
trên lịch sử không thể tiêu diệt.Riêng với các sử gia hàng ngàn năm sùng
bái Trung Quốc vàng thau lẫn lộn, phụ hội vá víu mà phát biểu đặc tính
của dân ta, gây ra tính căn ỷ lại, thì nước ta không thể làm được. Xem
Trung Quốc là cha, cam chịu làm con, đọc lên khiến người chìm đắm tính
linh, nuôi thành thói quen ỷ lại. Nếu không lấy con mắt sáng suốt mà
xem, thì không thấy từ nay về sau phải đem những sự vẽ vời vô vị ấy mà
xóa sạch đi." (Chú thích của tác giả - Phan Chu Trinh - trước có đề chữ
NC và đặt ở tầng trên).
[5] Nước Đường, nước Lô: Di cảo chép "bất tri hữu Hạ Thương, vô luận
Đường Lô", chúng tôi dịch như trên. "Đường" là tên một triều đại trong
lịch sử Trung Quốc, những cũng chỉ nước Trung Quốc. "Lô": Chúng tôi chưa
hiểu tác giả chỉ nước nào.
[6] Tần Thủy Hoàng: Ông vua nhà Tần (cuối thế kỷ thứ III trước công
nguyên) đánh đổ sáu nước thời Chiến Quốc mà thống nhất Trung Hoa, bỏ chế
độ phong kiến, xây dựng Vạn lý trường thành, làm ổng tổ chuyên chế ở
phương Đông.
[7] Giao Chỉ: Tên cũ của nước Việt Nam, phần Bắc Bộ bây giờ.
[8] Sông Hoàng Hà, Dương Tử: Hai con sông lớn nhất ở Trung Quốc, Hoàng Hà ở miền Bắc và Dương Tử Giang ở miền Nam
[9] Nc: "Xét của cải mà lúc bấy giờ Trung Quốc lấy cuả nước ta, đều
là đem về làm của riêng cho bọn quân chủ. Không như các nước văn minh
châu Âu bấy giờ, lấy của cái nước ấy để sắp đặt việc nước ấy; nếu không
đủ thì tăng tiền vay của cái nước mẹ để giúp thêm cho. Người đọc chớ
lầm".
[10] Nc: "Xét Trung Quốc lấy nước ta, không như châu Âu bây giờ, nhân
sự nghiệp thực dân mà dấy lên, chẳng qua là do dã tâm của bọn quân
chủ".
[11] "Ngũ quý": Quý: cuối: năm đời cuối. Thời kỳ trong lịch sử TQ, ở
vào tiền bán thể kỷ thứ X, tiếp sau triều đại nhà Đường. Gồm năm đời
cuối là Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu.
[12] Lúc giao thời của Chu Tống: Lúc giao thời của nhà Hậu Chu và triều Đại Tống (960-1278)
[13] Nc: "Xét nước ta thời xưa cùng với Quảng Đông, Quảng Tây hợp làm
một nước. Có tên Việt Nam là từ sau khi bị Trung Quốc chinh phục. Hai
tỉnh kia mất vào tay Trung Quốc, dân tộc ta chỉ lấy một dải đất Giao Chỉ
trước sau chống lại Trung Quốc, cuối cùng tự lập riêng thành một nước.
Ta không thể bàn bạc được, tìm nguyên nhân độc lập thì rất nhiều".
[14] "Nhà bát cổ": "Bát cổ": tám vế, tám đoạn: là lối văn có tám đoạn
đối nhau, dùng trong thời khoa cử, để làm các bài "kinh nghĩa". Ở đấy
các nhà bát cổ chỉ các nhà nho hủ lậu, gò bó chỉ biết theo khuân phép
xưa cũ.
[15] Nc: "Xét nước ta các đời thụ phong với Trung Quốc chỉ là chính
sách ngoại giao, cho nên coi là trò chơi, không coi là vẻ vang. Kẻ lấy
Trung Quốc làm ỷ lại, ắt là vào thời cuối: vua nhác, tôi nịnh, binh bị
không sửa sang, coi như cha mà quên điều nanh ác. Thời cuối đời Trần, Lê
đều có, mà triều ta lại càng nhiều. Cho nên sứ thần ngày xưa phần lớn
lấy việc làm nhục người Trung Quốc làm vinh dự. Những kẻ đi việc sứ đời
sau lấy việc làm được một bài thơ, bài văn, một lời than, tiếng cười của
sĩ phu Trung Quốc trở về để khoe khoang với bạn bè làm vẻ vang. Mặt này
lại là một điều suy sút của sĩ phu nước ta".
[16] Triều ta: Di cảo chép "bản triều", chỉ triều Nguyễn
[17] Viễn giao cận công: Xa thì giao thiệp, gần thì đánh.
[18] Chiêm Thành: một nước xưa ở suốt dọc các tỉnh miền Trung ngày
nay, sau bị nước ta tiêu diệt, nay chỉ còn sót ít làng ở tình Bình Thuận
mà thôi.
[19] Chân Lạp: Một nước xửa ở phía nam tỉnh Bình Thuận, phía giáp
biển gọi là Thủy Chân Lạp, tức Nam Bộ bây giờ. Phía tiếp núi gọi là Lục
Chân Lạp, tức Campuchia bây giờ.
[20] Cao Miên, Ai Lao: Tức Campuchia và Lào bây giờ.
[21] Đó là Phan Châu Trinh nhìn theo quan điểm bành trướng lãnh thổ
của các vua chúa phong kiến thời trước. Quan điểm bành trướng lỗi thời
này, hiệ nay chúng ta không chấp nhận.
[22] Tác giả ám chỉ việc Phan Bội Châu sang cầu viện Nhật Bản.
[23] Sau chiến thắng Nhật - Trung ở Triều Tiên (1896), Nhật Bản đặt
Triều Tiên dưới quyền bảo hộ của mình. Sau chiến thắng Nhật - Nga ở Lữ
Thuận (1905), Nhật Bản sát nhập Triều Tiên, coi như một nước thuộc địa.
Đến năm 1945, Triều Tiên mới độc lập.
[24] Kẻ bát cổ biến tướng: Kẻ học khoa cử bị biến chất.
[25] Nc: "Xét đoạn này nên đưa thêm vào hai nghĩa về học thuyết chính
thuật mới đủ. Nhưng vì điều đó người trong nước phần nhiều có thể hiểu
cho nên không nói làm gì".
[26] Thế lực phạm vi, thế lực xác định: Ta có thể hiểu "thế lực phạm vi" là thế lực chưa xác định.
[27] Trong di cảo, phần này dừng ở đây. Nguyên văn chỉ có 3 dòng.