Thứ Sáu, 16 tháng 4, 2010

HS.TS.VN

Post lại từ Dân Luận

HS.TS.VN: Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam

Thanh 
 
Kính gởi Ban Biên Tập Dân Luận,
Đọc được bài của bạn Nguyễn Minh và lời kêu gọi "Hãy bắt đầu bằng từng bước nhỏ để đạt một thay đổi lớn", tôi quyết định làm theo bạn Nguyễn Minh. Đó là tìm cách vẻ "HS - TS - VN" ở những nơi mà tôi có thể vẻ được. Vì tôi thấy cách này hay. Nếu bắt tôi phải vẽ cả hàng chữ "Hoàng Sa Trường Sa Là Của Việt Nam", thì tôi không dám làm, vì sẽ mất thì giờ rất nhiều, công an hay bảo vệ sẽ thấy và làm khó khăn. Do đó, sáng kiến cùa bạn Nguyễn Minh là viết tắt thành HS - TS - VN cũng là cách nói lên lòng yêu nước và đau buồn thay, lòng yêu nước này người ta không cho những thanh niên như tôi được biểu lộ công khai.
Các hình tôi gửi Ban Biên Tập là các hình do tôi làm ở huyện Hóc Môn, thành phố HCM vào ngày 14/4. Chiều nay, 15/4, các chữ này vẫn còn nguyên. Tôi làm như vậy vừa để nói lên lòng yêu nước, vừa biểu lộ sự khâm phục của tôi đến anh Điếu Cày, đã dám dăng biểu ngữ công khai giữa trung tâm thành phố Hồ Chí Minh. Mong rằng trong tù anh được bình an và khi ra tù, tôi tin rằng bên anh sẽ có tôi và nhiều thanh niên khác.
Rất mong Ban Biên Tập Dân Luận cho đăng các tấm hình này. Khi tôi làm được nữa, sẽ tiếp tục gởi đến Ban Biên Tập.
Thanh

hinh1.jpg
hinh2.jpg
hinh3.jpg
hinh4.jpg
hinh5.jpg

Mỹ Du Ký

Những ai chưa đến Mỹ thì cũng có thể hình dung đôi chút qua bài viết Mỹ Du Ký của ông Tiêu Dao Bảo Cự, ông là một cựu đảng viên đảng CSVN, sống ở miền Nam trước 75. Vừa qua ông được thân hữu ở Mỹ mời sang Mỹ chơi, vợ chồng ông quả là may mắn hơn nhiều người VN hay chính cả Mỹ, những người sống cả đời ở Mỹ có khi chẳng biết nơi nào ngoài cái thành phố họ ở chứ đừng nói tới tiểu bang. Trong khi vợ chồng ông có cơ hội du lịch "free" trong vòng 6 tháng ở đất nước Mỹ.  Không hiểu bài du ký của ông có đăng ở báo ở VN không, nhưng hy vọng người ở VN đọc được để nhìn nước Mỹ qua con mắt của một người một thời chống Mỹ!

Madame Ngãi


Tiếp câu chuyện di tản 219 cô nhi Việt, 12 Tháng Tư 1975
Bảy lần di tản, nuôi một ngàn cô nhi, làm người di tản cuối đời
Hà Giang/Người Việt
Trong số báo cách đây ít ngày, độc giả được đọc câu chuyện về người phụ nữ Mỹ, tên là Betty Tisdale, từng mang 219 cô nhi Việt Nam ra khỏi Sài Gòn những ngày cuối Tháng Tư, 1975. Trong câu chuyện mà bà Tisdale, nay đã 87 tuổi, kể cho phóng viên Hà Giang của nhật báo Người Việt, bà có nhắc đến một phụ nữ Việt Nam, mà bà gọi là một vị Thánh. Người phụ nữ Việt Nam này tên là Vũ Thị Ngãi, từng cưu mang đến cả ngàn cô nhi miền Bắc, hồi thập niên 1940s, 1950s. “Madame Ngãi,” theo cách gọi của bà Tisdale, từng là tiểu thư của một trong những gia đình giàu có bậc nhất Thanh Hóa một thời. Gần 220 “đứa con” cô nhi của Cô Nhi Viện An Lạc thoát ra khỏi Sài Gòn năm 1975. Cuộc đời bà Vũ Thị Ngãi sau đó ra sao? Bà Betty Tisdale gặp vị Thánh Nguyễn Thị Ngãi của mình như thế nào? Xin theo dõi tiếp câu chuyện sau đây.

Bà Vũ Thị Ngãi săn sóc một em cô nhi bị ghẻ lở tại cô nhi viện An Lạc, Sài Gòn, vào khoảng năm 1961. (Hình: Hà Giang chụp lại tài liệu của bà Betty Tisdale)

Lật từng trang, rồi từng trang, cuốn “sổ đời” của bà Betty Tisdale, chúng tôi trở về với khung cảnh của cô nhi viện An Lạc, của Sài Gòn yêu dấu, và của những thay đổi của cô nhi viện này từ năm 1961, đến cuộc di tản Tháng Tư năm 1975.
Thời gian làm những tấm ảnh úa vàng, hoen ố nhiều chỗ. Nhưng bà Betty vẫn vanh vách đọc tên những khuôn mặt của từng người trong hình. Chắc hẳn bà đã nhiều lần xem đi xem lại những dấu tích kỷ niệm.

Các em cô nhi vây quanh người mẹ chung là bà Vũ Thị Ngãi, và Bác Sĩ Tom Dooley, vị ân nhân của cô nhi viện An Lạc trước khi bác sĩ Tom Dooley qua đời. (Hình: Hà Giang chụp lại tài liệu của bà Betty Tisdale)

Một tấm hình trắng đen chợt rơi ra.
Cầm hình lên ngắm nghía một lúc, bà Tisdale đưa hình cho tôi rồi nói bằng một giọng chợt nặng trĩu.
“Ðây là madame Ngãi, đang săn sóc một em bị ghẻ lở.”
“Bà Ngãi bây giờ còn sống không? Sau khi đám cô nhi được di tản, thì chuyện gì xảy ra cho bà?” Tôi hỏi.
Thay vì trả lời tôi, bà Tisdale mơ màng: “Người ta gọi madame Ngãi là người mẹ của ngàn đứa con!”
“Tôi coi madame Ngãi như một người mẹ. Bà và Bác Sĩ Tom Dooley là hai người Thánh sống.”
“Nếu không có Bác Sĩ Tom Dooley thì tôi đã không đến thăm cô nhi viện An Lạc.”
“Nhưng nếu không có Madame Ngãi thì cũng không có cô nhi viện An Lạc, và cũng tôi cũng không ngồi đây nói chuyện với cô ngày hôm nay.”
“Tôi thật may mắn được sống cùng thời với hai vị Thánh” Bà nói.

Bà Vũ Thị Ngãi (giữa) và Betty Tisdale (phải) trước giờ các em cô nhi được đưa lên máy bay qua Hoa Kỳ vào ngày 12 tháng 4 năm 1975. (Hình: Hà Giang chụp lại tài liệu của bà Betty Tisdale)

Rồi bà bảo tôi ngồi yên chờ bà đi pha ấm trà.
Biết bà đang muốn che giấu xúc động, tôi ngồi yên chờ đợi.
Trở lại với hai tách trà nghi ngút khói, và cuốn sách “Deliver Us from Devil” của Bác Sĩ Tom Dooley bà bảo.
“Tôi biết cô rất muốn tìm hiểu về Madame Ngãi, nhưng không hiểu tại sao cứ kể về bà thì tôi lại xúc động quá không nói được.”
“Những gì Bác Sĩ Tom Dooley kể về bà trong cuốn sách này tôi thấy rất chính xác!”
“Cô đọc đi nhé!”
Tôi cầm lấy cuốn sách, đọc chương Bác Sĩ Tom Dooley kể về Madame Ngãi và cô nhi viện An Lạc: “Những ngày công tác ở Hải Phòng để giúp những người Bắc di cư vào Nam, với chúng tôi là những ngày u buồn. Buồn không phải vì làm việc vất vả, nhưng vì những đau thương của bệnh nhân quanh chúng tôi quá nhiều, săn sóc không xuể.”
“Người bạn thường xuyên của chúng tôi là nỗi buồn, thế nhưng nếu chúng tôi muốn trốn nỗi buồn mà bỏ đi một buổi chiều nào đó, thì mặc cảm tội lỗi lại khiến chúng tôi hết vui nổi.”
“Cũng may còn có đám trẻ con của bà Ngãi, và cô nhi viện mà bà đã đặt cho cái tên không chính thức là An Lạc.”
“Họ đã mang đến cho chúng tôi những niềm vui hiếm có. Ðám cô nhi này là con của bà Ngãi, và giờ đây, họ cũng trở thành con chúng tôi.”

Các em cô nhi vui mừng ôm chầm lấy mẹ trong ngày bà Vũ Thị Ngãi đến Columbus, Georgia, vào đúng ngày 30 tháng 4, năm 1975. (Hình: Hà Giang chụp lại tài liệu của bà Betty Tisdale)

“Trong khốn khó, chúng tôi đón nhận nhau như những người thân trong gia đình. Và tôi cùng với các y sĩ phụ tá, trở thành viện y tế của các em cô nhi.”
“Madame Ngãi là một người đàn bà có nhiệt huyết của một cô gái 16, trông trạc tuổi ba mươi, nhưng bà đã hơn năm mươi tuổi.”
“Sinh trưởng trong một gia đình giàu có ở miền Bắc, nhưng Madame Ngãi thật dễ thương.”
“Bà có làn da mịn màng, tóc đen nhánh, nụ cười rất tươi, đôi mắt sáng, và hơi xếch ‘rất Á Ðông’, đã làm nhiều người say đắm ngay từ phút đầu gặp gỡ.”
“Madame Ngãi là một người rộng lượng. Một người trông coi cả một cô nhi viện thì hẳn phải là một người có đầu óc và trái tim rộng lượng.”
“Bà muốn ôm hết tất cả những trẻ thơ xấu số vào lòng, để thương yêu, để chăm sóc. Bà Ngãi có biệt tài chiếm được cảm tình của mọi người đối diện, nhất là những người Mỹ vừa có lòng hảo tâm vừa có điều kiện giúp những em cô nhi của bà.”
“Những em cô nhi được bà quan tâm đặc biệt thường là những em bị tật nguyền, xấu số nhất, thí dụ như cậu bé tên Nguyên.”
“Không ai biết cậu họ gì. Bà Ngãi cho biết bà nhặt cậu ở Thái Bình lúc mới lên 4. Giờ thì cậu đã 6 tuổi và có một nụ cười thật dễ mến. Nguyên bị lao xương sống lưng khiến cậu bị hơi gù. Nhưng Nguyên không bao giờ để việc đó làm mình buồn. Khi đi đứng, cậu thường xuyên bị té xuống, có khi thay vì đi thì lại lăn người trên đất, nhưng lúc nào cậu cũng phá lên cười.”
“Một em bé nữa cũng được Madame Ngãi rất thương, tôi không nhớ rõ tên. Em mới hai tuổi mà đã hoàn toàn bị mù, vì em bị đau mắt hột nặng cả hai mắt từ lúc mới sơ sinh. Tôi nhớ Madame Ngãi hay ôm em mà nói: “Giá mà lúc mới bị đau, em đã được chữa ngay thì đâu đến nỗi...”
“Có những em khác bị giang mai bẩm sinh, bị quặt lưỡi, què quặt, hay người đầy ghẻ lở khiến các bác sĩ dù cũng phải thấy hơi ghê sợ khi phải chăm sóc, nhưng bà Ngãi hình như lại lo cho các em một cách đặc biệt.”
“Gần bà, trẻ em hầu như không sống với mặc cảm, các em vẫn vui tươi, và tiếng cười hồn nhiên của các em trong những cảnh khốn cùng nhất làm cho chúng tôi quên hết mệt nhọc và thấy đời sống thật đẹp và có ý nghĩa.”
“Vì yêu các em, và vì yêu mến bà Ngãi, mà các người lính hải quân cứ có tí thì giờ rảnh là vào khu được gọi là cô nhi viện.”
“Và để cám ơn chúng tôi, bà không có gì hơn là đã chúng tôi những bữa ăn tối thật ‘thịnh soạn,’ nhưng với chúng tôi đôi khi là một mạo hiểm. Hãy thử tưởng tượng món súp nấu với đầu cá, gà luộc để nguyên cái đầu, mắm tôm, thì có thể hiểu nổi sự ‘hãi hùng’ của chúng tôi.”
“Madame Ngãi cứ lặng lẽ làm việc, chẳng bao giờ kể gì về mình.”
“Một lần tò mò, chúng tôi hỏi bà là cô nhi viện từ đâu mà có, những trẻ em từ đâu ra?
Và bà làm sao có tiễn để nuôi dưỡng chúng?”
“Lúc đó, Madame Ngãi mới kể chuyện cho chúng tôi bằng một giọng mơ màng, như người kể chuyện cổ tích.”
“Tôi sinh trưởng ở Thanh Hóa.”
“Gia đình tôi có lúc giàu có nhất Thanh Hóa. Chúng tôi có một ngôi nhà lớn thật đẹp và chung quanh là ruộng cò bay thẳng cánh. Mặc dù sau chiến tranh, căn nhà của chúng tôi bị sập đổ nhiều, nhưng vẫn còn ở được. Tôi cứ ra đường gom góp các em bé vẫn còn sống, mang về nhà, và tôi cùng các gia nhân cho các em tá túc.”
“Vào năm 1946, tai Thanh Hóa có rất nhiều trận chiến. Gia đình tan nát, Làng mạc đầy người chết, Trẻ con bị bỏ rơi trên các nẻo đường, hay thơ thẩn bên cạnh xác chết của cha mẹ. Chiến tranh không có thì giờ để dừng lại chăm sóc cho trẻ em.”
“Khi chiến tranh tiến sâu vào Thanh Hóa, tôi biết rằng mình phải di tản, Lòng thật buồn, tôi bán nhà, gom góp tiền bạc và vòng vàng mang đi, đến tỉnh Nam Ðịnh. Tại Nam Ðịnh, tôi mua một căn nhà khác, và tiếp tục nuôi đám cô nhi, giờ đã lên đến 600 đứa. Khi Nam Ðịnh rơi vào tay Việt Minh năm 1949, tôi lại phải di tản nữa, lần này mang theo 1,000 cô nhi.”
“Chúng tôi đã phải di tản như thế tất cả là 5 lần, và cuối cùng tôi đến ở Hải Phòng.”
“Trong lần di tản cuối cùng, vào Nam, bà chỉ còn mang theo được 80 em cô nhi, và tại Sài Gòn, cơ quan ‘Công Tác Nước Ngoài Hoa Kỳ’ (United States Oversea Mission) đã cất sẵn cho bà một cô nhi viện, mà bà đặt tên là cô nhi viện An Lạc.”
Ðọc xong chương sách, tôi nhìn bà Tisdale, chép miệng.
“Không ngờ, hai mươi năm sau Madame Ngãi lại phải di tản cô nhi viện An Lạc một lần nữa.”
Bà Tisdale, dường như đã lấy lại được bình tĩnh, bắt đầu kể chuyện:
“Sau khi đã đưa các em cô nhi về đến Geogia an toàn, tôi bắt đầu lo cho Madame Ngãi.”
“Tôi gọi cho Ðại Sứ Martin và nhờ ông đến cô nhi viện An Lạc đưa Madame Ngãi cùng người phụ tá, cũng là cháu của bà tên Thúc, và 3 người nữa đến tòa đại sứ.”
“Tôi khẩn khoản nhờ ông bằng mọi cách phải đưa bà ra khỏi Việt Nam vì nếu không tính mạng bà sẽ bị nguy hiểm khi Cộng Sản chiếm được Sài Gòn.”
“Mấy ngày sau tôi nhận được tin báo là Madame Ngãi đã được đưa đến Guam an toàn.”
Kể đến đây, bà Tisdale tìm trong cuốn scrap book, trao cho tôi một bài báo có tên “Orphanage Head May Be Adopted” của tờ Times Daily, đăng ngày 28 Tháng Tư, 1975, bảo tôi đọc đi, rồi ra khỏi phòng.
Bài báo viết: “Bà Vũ Thị Ngãi, 70 tuổi, một phụ nữ đã bỏ ra 30 năm trời nuôi dưỡng các em cô nhi tại cô nhi viện An Lạc, Sài Gòn, giờ đây có lẽ cũng có người nhận mang về nuôi.”
“Ðược Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ giúp ra khỏi Sàigòn từ tuần trước, hiện nay đã đến Guam.”
Cựu Ðại Tá Bác Sĩ quân y Patrick Tisdale cho biết vợ ông, Betty Tisdale đã bay đến Guam vào ngày hôm qua, Chủ Nhật, 28 Tháng Tư, để đón bà về Columbus, Georgia.”
“Tôi nghĩ có lẽ kỳ này chúng tôi sẽ chính thức nhận Madame Ngãi làm mẹ nuôi. Từ trước đến giờ vợ chồng tôi vẫn xem bà như một người mẹ. Bà rất gần gũi với vợ tôi.” Bác Sĩ quân y Tisdale nói.
“Dù không muốn bỏ hơn 100 người con nuôi lại An Lạc, Madame Ngãi bắt buộc phải rời Sài Gòn trước khi Cộng Sản vào, vì chắc chắn họ sẽ trừng phạt bà, chúng tôi không nghi ngờ gì về điều này.”
“Ông Tisdale, 45 tuổi, một đại tá bác sĩ quân y về hưu, đã phục vụ tại Việt Nam một năm, cho biết Cộng Sản đã công bố trên chương trình phát thanh của họ, là Madame Ngãi nằm trên một danh sách những người sẽ bị xử tử.”
“Có rất nhiều lý do khiến họ muốn giết bà, nhưng việc mà bà nhất định phải di tản hơn 200 cô nhi qua Mỹ là một lý do quan trọng.”
Bà Tisdale bổ túc bài báo bằng những lời giải thích: “Chồng của Madame Ngãi là một nhà tư bản công nghiệp giàu có, cùng với một người con trai đã bị mất tích, biến mất trong cuộc hỗn loạn xẩy ra đầu năm 1954, khi quân Việt Minh giao tranh với quân Pháp.”
“Khi di cư vào năm 1954, Madame Ngãi đã mang 80 cô nhi từ Bắc vào Nam. Ở đó, bà dựng ra cô nhi viện An Lạc, với sự giúp đỡ của Bác Sĩ Quân Y Tom Dooley, người đã phục vụ ở Việt Nam vài năm trước khi ông qua đời năm 1961, ở tuổi 34.”
“Madame Ngãi không phải là một người làm chính trị, bà rất cẩn thận để tránh khỏi bị gán cho từ đó. Thế nhưng bà vẫn có những lý do cá nhân để không thích cộng sản.”
“Bà cho biết lý do bà để cho các cô nhi rời khỏi Việt Nam vài tuần qua cũng giống như lý do tại sao bà mang các em rời khỏi miền Bắc vào năm 1954: Bà không muốn các cô nhi của mình phải sống dưới chế độ Cộng Sản.”
“Nhưng bà Ngãi bây giờ còn sống hay đã chết?”
Tôi chợt hỏi.
“Tìm Madame Ngãi tại Guam, tôi đưa bà về Columbus, Georgia để ở với chúng tôi.”
“Chúng tôi xây một căn nhà riêng cho bà ở sau vườn.”
“Ngày bà đến Georgia, gần như hầu hết các em cô nhi đều ra đón. Mọi người ai cũng vui quá.”
“Nhưng bà chỉ ở được với chúng tôi ba năm, rồi qua đời năm 73 tuổi, sau khi bị stroke.”
“Tại sao những người tốt lại chết sớm?” Bà Tisdale hỏi.
“Bác Sĩ Tom Dooley cũng là người tốt mà còn mệnh yểu hơn.” Tôi nói.
Rồi bà hỏi, như tự trả lời.
“Ừ, tôi nghĩ có lẽ điều quan trọng không phải là sống được bao lâu, mà là đã làm gì được cho ai, và khi chết đi có ai thương tiếc, phải không?”

Một Phụ Nữ Mỹ Cưu Mang 216 Cô Nhi Việt:

Bà Betty Tisdale (phải), <br>năm nay đã 87 tuổi, với cô con 
gái tên Liên<br> là 1 trong 5 người do chính bà nhận nuôi 
<br>trong số 216 cô nhi An Lạc, <br>trong một bữa cơm tại 
Seattle.
 12 tháng 4, 1975 và cuộc di tản vô tiền khoáng hậu
Hà Giang/Người Việt Seattle, Apr 13, 2010



Bà Betty Tisdale (phải), năm nay đã 87 tuổi, với cô con gái tên Liên là 1 trong 5 người do chính bà nhận nuôi trong số 216 cô nhi An Lạc, trong một bữa cơm tại Seattle.


LTS - Đúng ngày này, 35 năm trước, chiếc máy bay quân sự Mỹ đưa 216 cô nhi Việt Nam thoát khỏi một quốc gia đang hấp hối, để vào Hoa Kỳ. Độc giả Người Việt cách đây ít lâu được biết đến câu chuyện của thanh niên Vũ Tiến Kinh, đi tìm, và tìm được vị bác sĩ đã cứu sống mình 35 năm trước tại bệnh viên UCLA. Vũ Tiến Kinh là một trong 216 cô nhi ấy. Nhưng, ai là người đứng đàng sau chiến dịch di tản 216 cô nhi An Lạc? Cuộc di tản vô tiền khoáng hậu được thực hiện ra sao trong những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam ? Xin giới thiệu cuộc chuyện trò dưới đây, giữa phóng viên Hà Giang và người phụ nữ Hoa Kỳ có cả cuộc đời gắn liền với hàng trăm cô nhi gốc Việt.

Sài Gòn, cách đây 35 năm

“Tháng 4 năm 1975, tình hình ngày càng tệ, nhiều dấu hiệu cho thấy cuộc chiến sắp tàn, Sài Gòn sẽ thất thủ, một số lớn người Việt Nam đã bồng bế nhau đi. “Khi Tổng Thống Gerald Ford cho phép các máy bay vận tải (cargo aircraft) được bắt đầu di tản cô nhi ra khỏi Sài Gòn, tôi biết là đã nguy kịch lắm.”

“Mọi việc biến chuyển quá nhanh! Hồi tháng 2, khi về Việt Nam ăn Tết với các cô nhi An Lạc, tôi thấy mọi việc xung quanh còn có vẻ bình thường. Thật không thể tưởng tượng quân đội Hoa Kỳ đã thực sự bỏ cuộc, và cộng sản Bắc Việt sẽ tiến chiếm Sài Gòn.Nhưng không có nhiều thì giờ để sửng sốt.Tôi lập tức gọi cho bà Vũ Thị Ngãi, Giám Đốc viện mồ côi An Lạc, và người mẹ tinh thần của tôi, là hãy chuẩn bị di tản gấp, vì chỉ vài ngày nữa tôi sẽ về mang hết toàn thể mọi người, cô nhi, giám đốc và nhân viên của An Lạc qua Mỹ.”
“Di tản tất cả mọi người?”
Tôi nhớ lúc đó bà Ngãi đã ngỡ ngàng hỏi.
“Và tôi trả lời: ‘Vâng, tất cả mọi người! Đặt xong vé máy bay, tôi biết mình chỉ vỏn vẹn có hai ngày để chuẩn bị cho cuộc di tản vĩ đại.Tuy nói thật mạnh miệng với bà Ngãi, thú thật, lúc bấy giờ, tôi chưa hề biết mình sẽ xoay sở ra sao để mang được cả 400 cô nhi của An Lạc qua đây.Chỉ biết là tôi không thể để cho các em sống trong thế giới vô thần của chủ nghĩa Cộng Sản!”

***
Nói đến đây, người đàn bà ngồi trước mặt tôi, tóc bạc phơ, da mồi, khuôn mặt phúc hậu, đã 87 tuổi, nhưng đôi mắt hiền từ còn rất tinh anh, và giọng nói còn mạnh mẽ, ngừng lại để nhấp một ngụm nước.

Trong căn nhà nhỏ ở Seattle, tiểu bang Washington, có nhiều cây bao quanh, không khí như đẫm ướt sương, và lá rơi khắp mặt đường, tôi ngồi thu mình trong chiếc ghế sofa, mà theo lời bà, “được chế ra từ một chiếc giường mây mang đến từ cô nhi viện An Lạc, 35 năm trước đây.”

Và câu chuyện bà kể, cũng cũ xưa như chiếc giường mây tôi đang ngồi, xảy ra cách đây đúng 35 năm, với tôi là một hành trình đi tìm lịch sử, nhưng với bà là một chuyến xe trở về với kỷ niệm. Tên bà là Betty Tisdale.

Bắt đầu từ cuộc di cư 1954

Câu chuyện được tiếp tục sau khi bà Tisdale đưa tôi đi thăm căn phòng, mà bà gọi là “The Việt Nam Room.” Căn phòng, chứa đầy bàn ghế tủ giường làm từ Việt Nam , và một cuốn scrap book vĩ đại to bằng một phần tư cái giường, trong đó dán đầy hình ảnh và bài báo của gần năm mươi năm sinh hoạt của bà.
“Cuốn scrapbook của bà vĩ đại quá!” Tôi kêu lên.
Lần giở vài trang, bà Tisdale nói như cho một mình mình nghe.
“Cả cuộc đời tôi nằm trong ấy! Đó là cuộc đời của tôi...”
“Tôi sẽ phải trở lại căn phòng này, xem từng tài liệu, nếu bà cho phép!” Tôi nói.
“Sáng mai tôi sẽ đón em trở lại và chúng ta sẽ duyệt qua mọi tài liệu em muốn.” Bà Tisdale nhìn tôi hứa hẹn.
“Ồ thích quá, bà cho phép thật không?” Tôi reo lên.
Chúng tôi xuống ngồi ở phòng khách, rồi bà tiếp tục câu chuyện.
“Tôi sinh năm 1923 và là chị cả trong một gia đình có năm chị em.Lớn lên trong thập niên 1930s, thời “depression” (giai đoạn Đại Khủng Hoảng Kinh Tế) của Hoa Kỳ, tôi phải giúp cha săn sóc các em từ nhỏ, vì mẹ bà bị bệnh lao, lúc đó không chữa được, phải ở trong một viện dành cho những người cùng bệnh. Năm tôi chín tuổi thì cha bị bệnh chết, đứa em trai út cũng chết vì bệnh lao.Hai người cô ruột, và một người hàng xóm chia nhau mang bốn chị em chúng tôi về nuôi.Lớn lên không được đi học nhiều, tôi làm đủ mọi thứ việc để kiếm sống, và dần dà được nhận vào làm thư ký cho hãng US Steel, một công việc không dễ lúc đó.”

“Lúc hai mươi mấy tuổi, tôi đã tự tạo được cho mình một cuộc sống khá ổn định, độc lập, không vướng bận, nhưng lúc nào cũng thấy mình bị thôi thúc bởi một cảm giác bất an là ‘chưa làm được gì.Mẹ nuôi thấy tôi bất an, luôn bảo là hãy mãn nguyện với cuộc sống của mình.Nhưng hai chữ mãn nguyện làm tôi thật ‘bất mãn!

Vì nếu lúc nào cũng mãn nguyện thì còn làm gì được cơ chứ?” Bà Tisdale cao giọng.Thế rồi một hôm, định mệnh đẩy vào tay tôi một cuốn sách khiến tôi ngơ ngẩn.”

Nói đến đây bà với tay lên kệ sách, rút ra và trao cho tôi cuốn sách cũ kỹ, bìa rách tả tơi. Đó là một cuốn sách cũ kỹ đã xuất bản cách đây gần 50 mươi năm, có tên là “Deliver Us from Evil” của Bác Sĩ Tom Dooley, một bác sĩ quân y thuộc Hải Quân Hoa Kỳ.Ngoài bìa là hình một người đàn ông Mỹ đứng cạnh một đứa bé Á Đông.Nâng cuốn sách trên tay, tôi như bị thôi miên bởi những tấm hình trắng đen ghi lại cuộc di cư của hơn một triệu người trốn chạy Cộng Sản từ Bắc vào Nam . Những hình ảnh có lẽ trông còn thê thảm hơn cả cảnh vượt biên của 'boat people' vào năm 1975.

Sách kể lại những gì Bác Sĩ Tom Dooley đã làm để xoa dịu vết thương của những người có mặt trên chuyến “Hàng Không Mẫu Hạm USS Montague” đưa người Bắc di cư vào Nam năm 1954.Lật một trang sách, bà Tisdale chỉ cho tôi xem tấm hình chụp một người đàn bà đang trên đường trốn chạy, nhưng vẫn rất thanh lịch, đang được những đứa trẻ rách rưới lem luốc vây quanh.
“Đó là bà Vũ Thị Ngãi, một người đàn bà góa chồng, có học thức, thuộc dòng dõi quý tộc.” Bà Tisdale nói.
“Trên đường di cư, bà Ngãi nhặt hết những đứa trẻ nằm lê lết bên xác của cha mẹ rồi mang theo vào Nam .Những đứa trẻ này, là những em cô nhi đầu tiên của cô nhi viện An Lạc.Đó là lần đầu tiên tôi nghe đến cái tên cô nhi viện này.”
Tôi lướt nhanh những hàng chữ trước ở bìa trong. Sách kể sau cuộc di tản, Bác Sĩ Tom Dooley giúp bà Vũ Thị Ngãi dựng cô nhi viện An Lạc, những trẻ mồ côi và nạn nhân chiến tranh, ông cứ về Mỹ xin tiền, gây quỹ, rồi lại mang vào Việt Nam để giúp đỡ họ.
“Nội dung cuốn sách cứ ám ảnh tôi. Tôi không thể xua được những hình ảnh bác sĩ Tom Dooley săn sóc đủ mọi loại bệnh nhân ra khỏi đầu.” Bà Tisdale kể tiếp.
“Tôi quyết tìm gặp Bác Sĩ Tom Dooley cho bằng được.Và cuối cùng tôi thì cũng gặp được ông trong khu chữa bệnh ung thư của một bệnh viện ở Nữu Ước.Tôi hỏi ông có tôi có thể làm gì để giúp đỡ việc ông đang làm.Ông không nói gì về bệnh tình của mình, mà chỉ bảo tôi khi có thì giờ nên về thăm cô nhi viện An Lạc, rồi sẽ biết phải làm gì.Sau lần gặp mặt duy nhất đó, Bác Sĩ Tom Dooley qua đời, lúc ông mới 34 tuổi.”
“Bác Sĩ Tom Dooley còn nói với bà điều gì không?” Tôi hỏi.
“Có! Ông nói một câu mà tôi không bao giờ quên...Là đừng bao giờ quên rằng một người bình thường cũng làm được những việc phi thường".
"Một người bình thường cũng làm được những việc phi thường.” Tôi lập lại.
“Vâng! Thế là tôi để dành tiền, mua vé máy bay về thăm An Lạc.”

Cô nhi viện An Lạc

“Chiếc xích lô đưa tôi đến cô nhi viện trong một buổi trưa nóng bức của năm 1961.Và dù đã chuẩn bị tinh thần, quang cảnh của cô nhi viện An Lạc làm tôi chết lặng.Bà Vũ Thị Ngãi lúc ấy đang săn sóc một đứa trẻ bị ghẻ lở, đứng dậy rửa tay, rồi ra đón tôi, và đưa tôi đi một vòng thăm cô nhi viện của bà.Trẻ em nằm thọt lỏn trong những cái võng được bện bằng vải rách, hoặc còng queo trên một dãy những chiếc nôi rỉ sét.Không có hệ thống nước trong nhà. Tất cả mọi người tắm rửa ở các vòi nước ngoài sân.Không có cả nhà bếp, ngoài những chiếc lò than nằm lỏng chỏng dưới đất.Ở các góc phòng, nhiều trẻ em, đứa lớn bồng đứa bé.Thế nhưng đâu đó vẫn có tiếng cười trong như pha lê, và những ánh mắt long lanh.Tôi đến gần một chiếc nôi và bế một đứa bé. Và khi đứa bé đưa hay tay quàng vào cổ tôi, rồi nhất định co chân đu người lên không cho tôi thả nó xuống nôi nữa, thì tôi biết cuộc đời mình giờ đã gắn liền với An Lạc.”

Cuộc đời gắn liền với An Lạc

Trở về Mỹ, bà Tisdale quyết định không thể tiếp tục làm thư ký cho hãng US Steel được nữa, mà phải đi tìm một công việc khác, để có điều kiện hỗ trợ bà Vũ Thị Ngãi, và những đứa trẻ đáng thương bà đã gặp ở An Lạc.

Nhờ người quen giới thiệu, bà được giới thiệu vào làm thư ký cho Thượng Nghị Sĩ Jacob Javits tại tiểu bang Nữu Ước. Và dùng thế lực của Thượng Nghị Sĩ Javits, bà xin được thuốc men, tã lót, nồi niêu, xoong chảo, sách vở và tất cả những thứ một viện mồ côi cần có.

Hàng năm bà Tisdale dùng ngày nghỉ phép của mình để về thăm và sống với các em cô nhi An Lạc. Cũng dùng sự quen biết của mình, bà gặp các binh sĩ Hoa Kỳ đóng gần Sài Gòn nhờ họ đến giúp xây hệ thống nước, bếp, và giường chiếu.

Cuối tuần, các binh sĩ Hoa Kỳ rủ nhau đến chơi đùa với các em, và làm những việc cần thiết để biến An Lạc thành một nơi tương đối khang trang cho các em. Cũng tại An Lạc, bà Tisdale gặp một bác sĩ quân y góa vợ, đến giúp cô nhi viện và hai người kết hôn.

Trong tấm hình cưới của hai người, tôi thấy chồng bà, Bác Sĩ Quân Y Tisdale, có nét quen quen. Nhìn kỹ thì mới thấy ông có nét giống Bác Sĩ Tom Dooley thuở nào.
Trong vòng mười bốn năm trời, bà Tisdale mỗi năm đi thăm An Lạc mấy lần, và chăm sóc từng cô nhi ở An Lạc và coi tất cả như con của mình. Cuộc sống êm đềm tưởng cứ thế trôi, nhưng không ngờ đùng một cái bà phải di tản cả cô nhi viện.

Di tản

“Sau khi đã mua vé đi Việt Nam rồi thì tôi bắt đầu lo.Làm sao mang được các em qua đây? Mang đến đây rồi chứa các em ở đâu? Làm sao để có thể tìm ngay cha mẹ nuôi cho ngần ấy em trong vòng một thời gian ngắn? Đầu óc tôi quay cuồng những câu hỏi.”

Không biết bắt đầu từ đâu, bà Tisdale gọi Hoa Thịnh Đốn, rồi được biết là chính phủ đòi hỏi trẻ em phải có sẵn cha mẹ nuôi, hay đang làm thủ tục làm con nuôi thì mới được vào Mỹ. Bà gọi Sở Di Trú thì được họ đề nghị là nên liên lạc với một trong các tổ chức chuyên lo thủ tục con nuôi thì mới có thể mang các em vào Hoa Kỳ.

“Tôi chỉ là một cá nhân tự quyên tiền, bấy lâu đi về Việt Nam để giúp các em, hầu như không quen lắm với thủ tục xin/cho con nuôi.Ngoại trừ những lần làm thủ tục nhận năm bé gái An Lạc làm con nuôi và mang về Mỹ.Tôi gọi cho trung tâm Tressler Lutheran ở Pennsylvania , và được họ hứa sẽ tìm cách giúp đỡ.Nhưng trước khi đi Việt Nam tôi còn phải tìm chỗ tạm trú cho các em. Tôi chợt nhớ đến trại Fort Benning ở Georgia . Nơi đây có những trại trống, tại sao không thể tạm để các em ở đó? Liên lạc với vị tướng của trại Fort Benning mãi không được, tôi tìm cách gọi cho mẹ của ông, tự giới thiệu và giải thích là tôi phải mang 400 trẻ em cô nhi qua, cho biết cần sự giúp đỡ của bà, vì sáng mai tôi phải đi Việt Nam sớm.May sao, bà biết đến tên tôi vì thỉnh thoảng tôi hay đi diễn thuyết ở các nhà thờ.”
“‘Để chuyện đó tôi lo cho!’ Mẹ của ông tướng nói.”
“Về đến Việt Nam , tôi đến ngay Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ.Lúc đó tòa đại sứ đã chuẩn bị để đóng cửa, tủ bàn xô lệch, hồ sơ đã được đóng thùng, chuẩn bị đưa đi. Vị đại sứ giới thiệu tôi với một người lo máy bay di chuyển của quân đội.Ông ta nói có thể lo việc vận chuyển, cần bao nhiêu máy bay của quân đội cũng có, nhưng tôi cần được sự chấp thuận của chính quyền Việt Nam .”
“Tôi đi gặp thứ trưởng Bộ Xã Hội là Bác Sĩ Phan Quang Đán, thì được ông cho biết chúng tôi cần phải có một danh sách và giấy khai sanh cho các em. Trẻ em bị bỏ rơi người ta mang đến vất ở cửa cô nhi viện, chúng tôi nhặt vào nuôi, làm sao có giấy khai sanh bây giờ? Nhưng bắt buộc phải vượt qua mọi trở ngại! Chúng tôi làm việc thâu đêm để chế ra giấy khai sinh cho các em, rồi tạo ra một danh sách, với 400 tên.Chúng tôi đặt tên cho các em trai bắt đầu với Vũ Tiến... Và các em gái bắt đầu với Vũ Thị...”
“Tại sao lại chọn họ Vũ?” Tôi hỏi.
“Vì lấy theo họ bà Vũ Thị Ngãi, sáng lập viên và giám đốc của cô nhi viện. Sáng ngày lên đường chúng tôi mang danh sách lên nộp ở Bộ Xã Hội, thì được Bác Sĩ Phan Quang Đán cho biết không thể cho các em trên mười tuổi ra đi.”
“Vì sao?”
“Chúng tôi sẽ cố thủ, chúng tôi không thể bỏ cuộc. Chúng tôi không thể để cho Việt Cộng tiến chiếm. Chúng tôi cần tất cả các em trên mười tuổi ở lại để giúp đánh trận.Tôi rất tiếc là không thể để cho các em đi được. Đó là quyết định của chính phủ tôi.”
"Thứ Trưởng Phan Quang Đán cương quyết. Khi tôi mang lệnh của Thứ Trưởng Phan Quang Đán về báo cho cô nhi viện thì cảnh trước mặt làm tôi thật đau lòng.Các em sơ sinh đã được đặt nằm gọn ghẽ vào trong những chiếc giỏ phủ đầy chăn và tã, các em lớn quần áo chỉnh tề. Các em hai ba tuổi thì đang chạy lăng quăng chơi đùa quanh những cái giỏ.Bà Vũ Thị Ngãi, người phụ tá và các thiện nguyện viên cũng đã sẵn sàng lên đường.”
“Tin nghe như sét đánh ngang tai, người lớn chỉ lặng lẽ nhìn nhau, còn các em lớn được bảo thay quần áo ra thì ngơ ngác.Xa xa có tiếng súng nổ. Người ta bảo cộng sản Bắc Việt đã tiến gần vào thành phố.Sau khi trấn tĩnh. Chúng tôi quyết định cùng kéo nhau hết ra phi trường, những em phải ở lại đưa tiễn những đứa được ra đi.Trước khi lên xe, tôi quay lại nhìn cô nhi viện lần cuối.”
“Những chiếc nôi trống rỗng. Không có trẻ em, cô nhi viện trông như một cái xác không hồn.Bà Vũ Thị Ngãi đứng yên một góc, mắt đỏ hoe.Tại phi trường, chúng tôi bịn rịn chia tay.Tôi ôm bà Ngãi, và hứa sẽ quay trở về để đón bà, mà lòng tự hỏi không biết khi tôi trở về được thì có muộn quá không.Hai chúng tôi cùng cố không khóc, nhưng nước mắt ràn rụa.”
”Các em bé được quân nhân chuyển từ những cái giỏ vào các thùng giấy cho an toàn hơn.Mọi thứ đã sẵn sàng.“Máy bay gầm gừ cất cánh, những cái vẫy tay của bà Ngãi và giọt nước mắt của các em nhạt nhòa dần. Nhưng những hình ảnh ấy sao cứ mãi khắc sâu trong tâm khảm.Tôi đã ra đi, bỏ lại gần hai trăm đứa con mình đã săn sóc cả mười bốn năm trời.Và lời nói của Thứ Trưởng Phan Quang Đán mãi cứ vang trong tai tôi.”
“Chúng tôi sẽ cố thủ.Chúng tôi không thể bỏ cuộc.Chúng tôi không thể để cho Việt Cộng tiến chiếm. Chúng tôi cần tất cả các em trên mười tuổi ở lại để giúp đánh trận.”
Ngày 12 tháng 4 năm 1975, chiếc máy bay chở 219 cô nhi từ An Lạc đáp cánh an toàn tại Los Angeles. Một số cô nhi quá yếu đã được gửi lại ở UCLA để được săn sóc. Trách nhiệm của chính phủ Hoa Kỳ đến đây là hết. Ông bà Tisdale phải tự tài trợ phí tổn $21,000 cho chuyến bay đưa các em từ Los Angeles về Fort Banning để lo thủ tục tìm cha mẹ nuôi. Tất cả các em đã được trung tâm Tressler Lutheran Agency tìm cha mẹ nuôi trong vòng trên dưới một tháng.

Thứ Năm, 15 tháng 4, 2010

Nhạc của Phạm Văn Hưng




Xem thêm ở đây

Chuyện của cô Tạ Phong Tần

Xem bài tường thuật của cô Tạ Phong Tần thì không hiểu luật pháp xã hội VN ra làm sao nữa, đạo đức xã hội xuống cấp, học trò đánh nhau loạn xà ngầu như là du đãng chứ không phải học trò. Nếu những bài báo này mà dịch ra tiếng ngoại quốc thì có còn ai dám đến đất nước VN không?  Chán!

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010

Lại chuyện nước Vệ của Người Buôn Gió

Dân Luận post bài này trong mục thư giãn, đọc chả thấy thư giãn tí nào cả

Người Buôn Gió - Đại Vệ Chí Dị

Người Buôn Gió
Năm xưa nước Bạch đang giữ ngôi bá trong thiên hạ đại loạn, nhân dân nổi lên khắp nơi Nước Bạch không giữ được ngôi bá, nhưng nhờ thế mà dân chúng không phải nai lưng đóng thuế để sắm binh khí, binh sĩ được cho về quê quán làm ăn.
Trong lúc rối ren ấy, nước Tề vốn ở xa không bị ảnh hưởng, lại vốn có dã tâm nham hiểm bèn lợi dụng cơ hội mà xưng bá với thiên hạ.
Vệ là nước lân cân với Tề, nhanh nhẩu mang bản đồ sang Tề dâng đất để xin được nhận là chư hầu.
Hai nước mở cửa biên giới thông thương làm ăn đời sống nhân dân khá hơn, điều ấy thật đáng mừng. Vua tôi nhà Vệ thấy Tề dễ dãi bỏ qua chuyện chính chiến năm xưa lấy làm mừng lắm, tự nghĩ mình đã khôn ngoan chủ động cầu hòa giữ sự bình yên cho nước Vệ công ấy sử sách phải ghi đến muôn đời. Bèn tuyên truyền sâu rộng trong nước công lao ấy.
Bọn tuyên huấn đi rao giảng từ nhà trường đến chốn chợ búa, nào là triều đình nhanh nhạy bắt kịp thời thế, nào là đưa ra đường lối ngoại giao đúng đắn, nào là chọn đối tác chiến lược sáng suốt….
Dân Vệ một lòng tin tưởng vào kế sách triều đình, chí thú lo làm ăn.
Tề Bá Vương họp quần thần nghị rằng.
- Nước Vệ dạo này thế nào.?
Quần thần thưa.
- Muôn tâu, nước Vệ từ khi quan hệ với chúng ta đời sống về vật chất có khá hơn, chúng còn gì mà bận tâm. Giờ nước Vệ từ dân đến vua đều coi chúng ta là bạn hữu chí thiết.
Tề Bá Vương gật gù.
- Con chim béo nuôi mãi trong lồng, giờ có thả cũng không dám đi xa. Lúc này đoạt nốt biển đảo của chúng được chưa?
Quần thần tâu.
- Nước Vệ nói chung tinh thần giờ không còn lo chuyện chủ quyền nữa, nhưng một số ít các phần tử phản động trong nước vẫn còn la ó đề cao cảnh giác với Tề ta. Lúc này lên thận trọng từng bước một. Rừng xanh con lo gì thiếu củi đốt, ta cứ nắm giữ được triều đình nhà Vệ thì trước sau biển đảo ấy cũng về tay ta.
Tề Bá Vương hỏi.
- Tinh thần nước Vệ còn chỗ nào chúng ta chưa triệt xong?
Quần thần thưa
- Muôn tâu, về văn hóa, lối sống chúng ta đã u mê hóa gần hết. Chỉ vướng mắc đôi chút về tư tưởng của tiên vương nước Vệ thôi ạ. Tiên vương nước Vệ mất đi còn để lại nhiều câu bất hủ về chủ quyền, dân tộc. Nhiều kẻ sĩ trong Vệ thường mang những câu đó ra để cỗ vũ tinh thần cho dân chúng, đó là điều bất lợi cho ta.
Tề Bá Vương gọi vua tôi nước Vệ sang chầu. Tề Bá Vương hỏi Vệ Vương.
- Xưa hồi lúc nước Bạch xưng Bá, Vệ và Tề ngang nhau. Giờ Vệ cũng xưng vương liệu Tề ta biết cư xử thế nào.?
Vệ Vương mặt xám ngoét, chuyển sang chỗ bên hữu phía dưới ngồi miệng lí nhí:
- Xin cho là Vệ Công đươc không?
Tề Bá Vương gật đầu, lại hỏi tiếp.
- Đường lối của Tề Nhị Đế thì đã truyền cho Vệ, nước Vệ áp dụng đến đâu rồi?
Vệ công xá dài nói.
- Dạ thưa Đại Vương, nước Vệ được Tề dạy bảo đường lối, kế sách phát triển của Nhị Đế, mang về áp dụng, đời sống trong nước có khá hơn nhiều rồi ạ.
Tề Bá Vương trầm ngâm một lát rồi nói.
- Đường lối đã có hiệu quả, chủ nghĩa là của chung, vậy tư tưởng của Tề Tiên Đế có gì khác với Vệ tiên vương không? Nghe nói Vệ đang có phong trào phát triển giảng dạy tư tưởng Vệ tiên vương phải không?
Vệ Công chưa rõ phải trả lời sao, cứ cùi gằm mặt xoắn hai bàn tay vào nhau mà nhìn mãi. Tề Bá Vương thấy vậy bèn lấy trên bàn tập sách, xuống tận nơi đưa cho Vệ Công, thở dài nói.
- Xưa Vệ Tiên Vương theo hầu Tề Tiên Đế chinh chiến ngàn dặm, những tấm lòng của Vệ Tiên Vương với Tề còn tự tay Vệ tiêng vương ghi lại cả đây. Nay nước Tề có tư tưởng của Tiên Đế rồi, nước Vệ cũng có riêng của mình nữa. Há có thật lòng không? Nếu các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài lợi dụng để khoét sâu mâu thuẫn thâm giao của Tề và Vệ. Nước Vệ mà xa cách với Tề, liệu còn giữ được thái miếu mà tôn thờ, giữ được thái ấp mà hưởng lộc không?
Vệ công đứng dậy hướng lên điện Tề xá dài nói
- Xin cho nước Vệ còn chút gì để nhớ Tiên Vương
Tề Bá Vương phán.
- Nước Tề không hẹp hòi gì mà chấp nệ chuyện nghĩa cử ấy, xưa Tiên Vương nước Vệ hồi ở Tề ta, là người trung thành, thuần hậu, biết giữ phép tắc. Đó chả phải là điều đáng học ư?
Vệ Công về nước, họp quần thần nghị sự. Bỏ chữ học tập tư tưởng thay bằng chữ đạo đức. Thấm thoắt đã hơn ba năm, phòng trào phát triển sâu rộng khắp nước, thành quả chưa biết đến đâu. Nhưng thầy giáo thì hiếp học trò, quan đốc học mua dâm vị thành niên, học trò giết nhau như ngóe. Ngoài quan quân triều đình ra, dân chúng không ai bàn đến chính sự, chủ quyền. Chuyện ngoài chợ, quán xá, công sở nước Vệ là kiếm tiền và hưởng thụ. Cái này không phải do Vệ tiên vương không có đạo đức, mà bởi những chính những kẻ đi dạy làm những điều không gương mẫu. Bởi thành nông nỗi như vầy.
Tề Bá Vương lại họp quần thần hỏi.
- Nước Vệ giờ sao rồi?
Quần thần tâu.
- Nước Vệ không có gốc, không có đạo. Nước ấy tuy nhìn bên ngoài thì yên ổn. Nhưng không có nền tảng, gốc gác, như một cái cây bên ngoài lá xanh tươi nhưng bên trong thân rễ không còn sự sống. Bao nhiêu đã trổ ra đầu cành lá hết cả rồi.
Tề Bá Vương nhếch mép cười nhạt hỏi.
- Giờ đã đến lúc lấy biển đảo chưa ?
Quần thần dạ vang điện.
- Dạ, giờ nước Vệ còn ai quan tâm trông giữ đâu mà không lấy.
Tề Bá Vương đứng dậy, tuốt gươm lệnh, đập xuống bàn quát to như sấm.
- Lệnh cho chiến thuyền lên đường, gặp bất cứ cái gì của Vệ lảng vảng trên biển đều tiêu diệt.
Người thân thích của ngư dân nước Vệ ôm xác chồng khóc thảm thiết. Cảnh ấy lặp đi ngày này sang ngày khác. Ngư dân Vệ bị quân Tề giết và bắt bớ đến nỗi thông cáo của triều đình về việc ấy bình thường như chết do tai nạn giao thông hay vi phạm luật giao thông mà bị bắt. Dân chúng nghe mãi cũng thấy dửng dưng, quen tai như việc họ ăn, uống hàng ngày.

Người Buôn Gió - Lê Thanh Hiếu

Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2010

Tổng thống Balan tử nạn

Hôm qua nghĩ tới chuyện cô cháu tuổi teen mới từ Pháp về, cô khen dân Pháp ăn mặc đẹp và không có ai mập cả, tôi nói với mẹ cô, nếu cô mà sang Balan thì cô sẽ thấy con gái Balan đẹp và cái eo nhỏ biết chừng nào. Sáng nay dậy  bàng hoàng đọc tin tổng thống Balan và đoàn tuỳ tùng gồm những nhân  vật cao cấp tinh hoa của quốc gia Balan tử nạn trong chuyến bay đến Katyn để kỷ niệm 70 năm nơi 22 ngàn lính Balan đã bị giết bởi công an tình báo Nga. 
Lẽ ra là một dữ kiện tạo sự hoà giải giữa hai dân tộc Nga và Balan, thì có khi lại trở thành một dữ kiện khiến cho người Balan không muốn nhắc muốn nhìn tới người Nga.  Bởi bạn có ở Balan nói chuyện với người Balan thì mới rõ được sự khinh bỉ ghét bỏ người Nga như thế nào. Họ thù ghét người Nga đã mang chế độ Cộng Sản vào nước họ làm chậm tiến trình phát triển đất nước họ trong mấy mươi năm trời.  Những di tích gì Nga đã xây dựng trên đất nước họ, họ đều phá bỏ ngoại trừ cái cung văn hoá giữa thủ đô thì họ để lại vì nó cao, mà người Balan đã mỉa mai là chỉ khi đứng trong đó họ không phải nhìn thấy cái cung văn hoá to đùng sừng sững giữa thủ đô của họ, dù sao cũng là di tích còn lại để nhắc nhở một giai đoạn đen tối nhất của Balan.
Nhìn sự việc một đoàn tuỳ tùng cao cấp cùng với vợ chồng tổng thống Balan trên chiếc phi cơ TU-154 thì mới thấy lãnh đạo của một nước Đông Âu nơi không bị ảnh hưởng kinh tế suy thoái trong những năm vừa qua, họ đã tiết kiệm cho dân như thế nào, họ không đi riêng như đa số các công ty lớn trên thế giới không bao giờ để cho những người lãnh đạo công ty đi cùng một chuyến máy bay.  Họ không mua những chiếc máy bay sang trọng tối tân như nước... Việt Nam.  Cũng là một điều đáng suy nghĩ.

Ông Tây Hồ Cương Quyết

Những chuyện xầm xì trên mạng về vụ mời TQ sang cúng bái "liệt sĩ TQ" ở VN, không biết có bao nhiêu người dân biết nếu báo chí lề phải không đăng, nếu đăng thì chắc mọi người dân sau khi  Tự hào cầm tấm hộ chiếu Việt Nam như "Ông Tây Việt Cộng" Hồ Cương Quyết này chắc rồi cũng phải viết vài lời nhắc nhở nhà nước VN Nhiệm vụ ghi nhớ và lòng yêu nước. Liệu rồi ông có phải đi tù như những blogger khác không nhỉ.  Hay là dân tộc ta có bản tính vọng ngoại, người ngoài mắng thì chịu, dân mắng thì đập.

Thứ Sáu, 9 tháng 4, 2010

Tháng 4 của Mỹ và tháng 4 của Việt Nam

Đọc từ email bài đọc sau, ngẫm nghĩ Người Mỹ cuộc nội chiến nên họ hoà trong danh dự, còn Việt Nam thì hô hào đánh Mỹ nhưng sau đó trừng phạt đồng bào mình và làm hòa với kẻ thù.  Khác nhau ở chỗ đó, có lẽ điều này gọi là "đậm đà bản sắc dân tộc", cho nên người ngoại quốc khi nói đến VN thì họ nghĩ là một dân tộc chỉ biết lo đánh... nhau.

Ngày April 8/1865 của Hoa Kỳ và ngày April 30/1975 của Việt Nam
Lúc bấy giờ là đêm ngày 8 tháng 4 năm 1865, Đại tướng Robert Lee, thống lãnh quân đội miền Nam, cùng Ban Tham Mưu ngừng chân đặt bản doanh bộ chỉ huy trong một cánh rừng gần Toà Thị Xã Appomattox, thuộc tiểu bang Virginia. Sáu ngày liên tiếp trước đó đạo quân miền Nam đã đi không ngừng nghỉ tiến về phía Tây hướng về dãy núi Blue Ridge, nơi tướng Lee từng tuyên bố ông có thể cầm cự chiến đấu ít nhất là 20 năm. Nhưng đêm nay khi tướng Lee và Bộ Tham Mưu mệt mỏi của ông dừng quân tại Appomattox thì đạo quân miền Nam đang bị quân đội miền Bắc bao vây, lương thực cạn, hy vọng tiếp tế không có, hy vọng tăng viện cũng không. Xa xa tiếng đại bác xé màn đêm dội về... Tất cả hy vọng của tướng Lee lúc này chỉ còn đặt vào một vị tướng trẻ gan dạ, John Gordon. Vị tướng này sáng sớm hôm sau sẽ tiến quân chọc thủng phòng tuyến bao vây của quân đội miền Bắc.
Cách đó không xa, viên sĩ quan phụ tá của tướng Grant, thống lãnh quân đội miển Bắc, bước vào phòng riêng của tướng Grant để đánh thức ông dậy. Người sĩ quan hầu cận vội mang đến tướng Grant một tách cà phê nóng hổi. Tách cà phê dẫu có giúp nhẹ đi cơn nhức đầu nhưng không làm giảm bớt mối căng thẳng lo âu của tướng Grant. Sau cùng tướng Grant kéo ghế ngồi, và khởi sự thảo bức thư trả lời thư mới nhận được từ tướng Robert Lee. “Tôi rất muốn hoà”, tướng Grant viết, “và mong muốn kết thúc cuộc chiến mà không phải tổn thất thêm một nhân mạng nào nữa. Nhưng cuộc hội kiến do Đại Tướng đề nghị vào 10 giờ sáng hôm nay không có một lợi ích nào cụ thể và tôi không có thẩm quyền quyết định hoà hay chiến.” Nhưng bức thư của tướng Grant chưa kịp đến tay tướng Lee, tiếng súng đã lại bắt đầu nổ.
5 giờ sáng, sương mù còn bao phủ rặng đồi bên kia Appomattox. Loạt đạn đầu tiên xé màn sương, đánh thức sáng chủ nhật 9/Apr/1865, tiếp theo là tiếng thét tiến quân của quân đội miền nam. Từng đợt tấn công của tướng Gordon đã đánh bật tuyến phòng thủ đầu của quân miền Bắc, chiếm nhiều cỗ súng đại bác, đánh bạt hai bên mở rộng đường tiến quân, và ào ạt tiến lên đồi. Nhưng từ phiá bên kia đồi, quân miền Nam đã đụng phải một bức tường dày đặc, kéo dài hơn 2 dặm, cuả hai đơn vị bộ binh quân đội miền Bắc. Và ép từ phiá sau là hai đơn vị bộ binh khác của quân miền Bắc tiến lên. Quân miền Nam bị ép vào giữa, tiến không được, lui cũng không xong, và “chém vè” cũng không được.
Chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ sau, tướng Lee được tin khấp báo của tướng Gordon “Quân sĩ của tôi đã chiến đấu hết mình. Trình Đại Tướng tôi không làm gì hơn được nữa!”. Lập tức tướng Lee triệu tập Ban Tham Mưu thâu hẹp để quyết định hoà hay chiến. Tướng Lee nói với các tướng bao quanh: “Giờ đây tôi chẳng còn làm gì hơn là đến trình diện và đầu hàng trước tướng Grant”.
Nơi được chọn để nghị hoà là một căn nhà nhỏ mái ngói thuộc Appomattox, một thị xã hẻo lánh nằm vào phiá Nam tiểu bang Virginia. Có độ chừng 20 căn phố, lèo tèo vài cửa hàng nhỏ, một lữ quán và toà thị xã. Khi mặt trời leo lên cao là lúc tướng Lee đã đến điểm hẹn, ông bước theo sự hướng dẫn của vị sĩ quan tuỳ viên và một sĩ quan tham mưu thuộc Bộ Tham Mưu của Tướng Grant. Tướng Lee, uy nghi trong bộ binh phục đại lễ, hông đeo trường kiếm, ngồi xuống cạnh một chiếc bàn gỗ nhỏ. Giờ đây ông đã có mặt ngay trong lòng đất đối phương.
Vào khoảng nửa tiếng sau, tiếng giày nện trên sàn gỗ và tướng Grant bước vào. Khác hẳn với tướng Lee, tướng Grant không đeo kiếm, không mặc quân phục, quần và đôi ủng lấm đầy bùn.
Theo yêu cầu của tướng Lee, tướng Grant đích thân thảo bản văn kiện chính thức đầu hàng của quân đội liên hiệp miền Nam và sau tự tay trao cho tướng Lee xem lại. Chậm rãi, từ tốn, tướng Lee rút cặp kiếng đeo mắt, lấy khăn lau kỹ lưỡng, đeo kính lên và chăm chú đọc.
“….Vũ khí, đại bác và các tài sản công phải được liệt kê, sắp xếp và giao nộp cho một viên sĩ quan do tôi chỉ định. Những vũ khí này sẽ không gồm có vũ khí cá nhân của các sĩ quan, cũng như ngựa và tư trang của họ. Sau khi hoàn tất, mọi sĩ quan và binh sĩ sẽ được phép trở về nguyên quán, và sẽ không bị quấy nhiễu bởi các cơ quan cầm quyền chừng nào họ tôn trọng lệnh đầu hàng và tuân theo luật lệ địa phương nơi họ cư ngụ.”
Lần đầu tiên trong buổi hội kiến, gương mặt của tướng Lee tươi hẳn. Như vậy có nghĩa là sĩ quan và binh sĩ dưới quyền của ông sẽ không bị giam giữ như tù binh chiến tranh. Có nghĩa là họ sẽ không bị đem ra bêu riếu diễn hành hạ nhục trên các đường phố. Có nghĩa là họ sẽ không bị mang ra toà truy tố về tội phản loạn.
Tướng Lee nói, “Thưa Đại Tướng, những điều kiện đầu hàng thế này sẽ có ảnh hưởng rất tốt với quân đội của tôi.” Và tướng Lee nói tiếp, “Nhưng thưa ngài, trong quân đội miền Nam cuả tôi, ngay cả binh sĩ khi gia nhập cũng mang theo ngựa của họ vào quân đội.”
Tướng Grant nói ông sẽ không thay đổi gì trong văn kiện đầu hàng, nhưng sẽ ra khẩu lệnh cho phép mọi binh sĩ miền Nam được phép mang ngưạ và lừa về quê quán để sử dụng trong việc trồng trọt ở các nông trại.

Trận đánh quyết định tại Five Forks (Tháng Tư 1865)

Tướng Lee còn thêm một lời yêu cầu nữa. Ông trình bày cho tướng Grant biết ông còn giam giữ hơn một ngàn tù binh quân đội miền Bắc nhưng không có lương thực cung cấp cho họ và ngay chính quân đội của ông cũng không còn lương thực. Không ngập ngừng, tướng Grant đề nghị sẽ ra lệnh xuất kho cấp ngay khẩu phần cho hơn 25,000 quân sĩ của quân đội liên hiệp miền Nam.
Tướng Grant hỏi, “Như vậy, đủ chưa?”
“Thưa, quá đủ, quá đủ, thưa đại tướng.” Tướng Lee trả lời.
Tướng Lee đứng dậy, lần lượt bắt tay các sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của tướng Grant, bắt tay tướng Grant, nghiêng mình chào tất cả mọi người có mặt và bước ra khỏi phòng họp.
Tướng Grant và ban sĩ quan tham mưu đã đứng sẵn ở bao lơn trước căn nhà, nơi đôi bên nghị hoà. Khi ngựa tướng Lee rảo bước đi qua, cặp mắt của hai vị tướng quân chạm nhau trong giây phút, họ đồng ngả nón chào nhau. Trên bao lơn xung quanh tướng Grant và suốt trong sân trước căn nhà lịch sử, sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đều đưa tay chào kính vị tướng bại trận quân đội liên hiệp miền Nam.
Tin đồn đầu hàng của tướng Lee tràn lan mau chóng như thuốc súng. Khắp nơi binh sĩ miền Bắc reo mừng. Họ liệng lên không trung mũ nón, giày, bao đạn, áo hay bất cứ vật gì có thể ném tung lên được. Họ ôm nhau, hôn nhau. Súng ống các loại, kể cả đại bác bắt đầu nổ. Thế nhưng tướng Grant nhanh chóng ra lệnh ngưng ngay tức khắc những biểu lộ nỗi vui mừng của binh sĩ miền Bắc. “Rồi sẽ có ngày mừng chiến thắng”, tướng Grant giải thích, “Nhưng không phải là ngày hôm nay. Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Chúng ta không được phép reo mừng trên chiến bại của họ”. Điều quan trọng với tướng Grant là phải làm sao để thắng trận, đồng thời cũng phải gìn giữ cho bằng được sự toàn vẹn tình cảm giữa những người cùng trong cộng đồng dân tộc Hoa Kỳ.
4:30 chiều ngày 9 tháng 4, 1865, Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh tại Hoa Thịnh Đốn nhận được một điện văn ngắn ngủi của tướng Grant, “Tướng Lee đã buông súng đầu hàng quân đội miền Nam theo những điều kiện do tôi ấn định.”
Cách đó không bao xa, tướng Lee cỡi ngưạ trở về bản doanh của mình. Dọc hai bên đường, binh sĩ miền Nam nghiêm chào vị tướng lãnh mà họ tôn sùng. Nhiều người bật khóc, phủ phục bên đường. Tướng Lee cũng không cầm được nước mắt. Về đến đại bản doanh, trước mặt sĩ quan và binh sĩ đứng chờ, tướng Lee hướng về họ và nói: ”Tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được. Và nay lòng tôi nặng chĩu và không thể nói gì hơn”.
Bước đi vài bước, ông dừng lại và thêm: “Các anh em hãy trở về quê quán. Và nếu các ngươi sống được như những công dân tốt như các anh em đã từng chiến đầu như các chiến sĩ thì các ngươi sẽ thành công rồi. Và tôi sẽ luôn luôn hãnh diện vì các anh em.” Và tướng Lee biến mình vào trong lều vải của mình.
Điều kiện đầu hàng được hai tướng Lee và Grant ký kết tại Appomattox ngày 9 tháng 4, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 tháng 4 mới là ngày quân liên hiệp miền Nam chính thức buông súng đầu hàng.
Hai đạo quân dàn đôi bên con đường chạy theo phiá Đông rừng Appomattox. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường.
Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt.
Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký cuả mình: ” Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một giòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Đây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, một đoàn quân tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường”.
Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào!” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên.
Phiá đối diện, tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một dáng đìệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”, họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.
Và phiá hàng quân miền Bắc tiếp tục giữ đúng thế nghiêm. Không có thêm một tiếng kèn. Không có một tiếng trống. Không có một tiếng hô chiến thắng. Không có một tiếng nói. Không cả một tiếng thầm thì. Mà chỉ còn là một hàng quân im phăng phắc. Mọi nhịp thở như ngừng lại.
Buổi lễ đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ lần lượt bỏ xuống. Từng đơn vị tiến lên, gác súng, tháo bao đạn, và xếp súng xuống. Kế đến họ trìu mến cuốn hay xếp quân kỳ, hiệu kỳ, lắm cái tơi tả và lắm cái nhuộm máu đã khô, sau cùng họ khẽ đặt những lá cờ kia xuống mặt đất…
Tại sao người Mỹ lại có được tháng 04/1865 tuyệt vời như thế kia? Tuyệt vời bởi lẽ cả người thắng lẩn kẻ bại đều thiết tha và chân thành tôn kính lẩn nhau. Tuyệt đối không có cảnh “nhảy múa trên đau khổ của kẻ bại”. Người đích thực là kẻ chiến thắng trong 04/1865 chính là dân tộc Hoa Kỳ.
Mang tháng 04/1865 đặt cạnh tháng 04/1975, mọi người, kể cả những người khác biệt chính kiến, đều có thể dễ dàng nhận ra những khác biệt lớn lao vì Chiến bại tháng 04/1975 là chiến bại của một quân đội bị “Đồng Minh” đâm sau lưng.
- Sau 04/1865, quân Bắc Mỹ không hề trả thù quân Nam Mỹ. Tất cả hình thức ăn mừng chiến thắng đều bị ngăn cấm. Chẳng những không bị ngược đãi, quân Nam Mỹ còn được Bắc quân trao tặng hơn hai mươi lăm ngàn 25000 phần ăn như một lời chúc thượng lộ bình an trên con đường trở về quê hương gốc. Sau 04/1975, CSVN ra lệnh mang ra chợ xử bắn những quân cán chính nào của VNCH mà Hà Nội gán cho danh hiệu “ác ôn”. Mặt khác, tất cả thương bệnh binh của VNCH lập tức bị đuổi ra khỏi toàn bộ hệ thống quân y viện của Miền Nam Việt Nam. Đó là lý do giải thích tại sao những ngày đầu tháng 05/1975 vô số thương binh VNCH, kể cả những thương binh vết thương còn mới nguyên, lê lết khắp phố chợ làng quê…
- Không một người lính nào trong quân đội Nam Mỹ bị bắt giam như những tù binh. Ngược lại, tại Việt Nam 04/1975, CSVN bắt giam nhiều trăm ngàn quân nhân từ tướng đến binh (an ninh tình báo) của VNCH. Hành động bắt giam này được thực hiện bằng lời kêu gọi mang theo mười ngày lương thực nhằm tạo cho “nạn nhân” hiểu lầm là họ chỉ đi “học tập cải tạo” mười ngày. Trong thực tế 10 ngày có nghĩa là một hai thập niên tù khổ sai

Khi mùa dứt chiến chinh trên quê hương tôi (Tháng Tư 1975)
Tháng 04/1865 quân Bắc Mỹ chỉ tịch thu vũ khí cộng đồng, họ cho phép quan, quân miền Nam giữ lấy ngựa và vũ khí cá nhân như những tài sản riêng. Tháng 04/1975 nhà cửa, xe cộ của sĩ quan cao cấp của VNCH bị tịch thu, vợ con của quân nhân các cấp bị mất việc làm, bị đuổi đi kinh tế mới. Đặc biệt, không chỉ riêng gia đình quân cán chính VNCH mà ngay cả người dân bị goi là “dân vùng ngụy” cũng bị CSVN đánh đòn rất cẩn thận: đánh tư sản mại bản, đánh công thương kỹ nghệ gia, đánh tiểu thương, đánh văn nghệ sĩ, đánh tu sĩ các tôn giáo. Nói chung, tháng 04/1975 là ngày ghi dấu toàn bộ xã hội miền Nam Việt Nam biến thành địa ngục trần gian.
Cùng là CON NGƯỜI, tai sao người Mỹ đối xử với người Mỹ khác hẳn CSVN đối xử với người Việt Nam? Phải chăng văn hoá Mỹ khác với văn hoá Cộng Sản?

TS Lê Văn Bảo... là ai?

Hôm nọ đọc bài báo Phòng, chống "tự diễn biến" từ bên trong và bên trên của ông TS Lê Văn Bảo, nói là đọc thì cũng không đúng, tôi cũng làm biếng như nhiều người hay đọc net là chỉ đọc lướt qua thôi, và đọc lướt thấy ông đang cảnh báo chuyện "tự diễn biến" tôi không thấy ông nghiêm túc tí nào như nhiều người lên tiếng phản biện sau đó.  Có lẽ tại tôi dốt quá không thể nhìn thấy sự nghiêm trọng của vấn đề chính trị, tôi lại tính để dành đọc lại xem đúng là sự thực hay không? Vì đọc lướt tôi cứ nghĩ ông đang "Nói dzậy mà không phải dzậy", đến khi đọc lướt bài của nhà báo Phạm Viết Đào cho là ông TS Bảo Về phát súng chỉ thiên cảnh báo của báo Quân Đội trước thềm đại hội XI? thì tôi hoảng hồn, hoá ra mình đọc lơ mơ quá, dốt quá,  cứ tưởng là chuyện người ta nói đùa về một chế độ, đâu có nghiêm trọng tới nỗi có người còn đề nghị phải truy tố ông TS Lê văn Bảo.  Tự nhiên tôi thấy ông TS "tội nghiệp" quá.  Không khéo ông lại bị ghép vào tội "làm lộ bí mật an ninh quốc gia í quên của đảng" thì mệt.

Thứ Hai, 5 tháng 4, 2010

Ðại Tá Nhảy Dù LƯƠNG XUÂN VIỆT nhân tháng Tư đen

Tôi chỉ nghe nói về người sĩ quan Mỹ gốc Việt này, nhưng hôm nay nghe ông nói ngạc nhiên là ông nói tiếng Việt sõi và chuẩn, vậy cũng đủ là niềm hãnh diện có những người ở thế hệ ông còn nhớ tới tiếng Việt, tới lịch sử cận đại của VN đang bị bỏ quên.



                 

Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2010

Nghiã trang liệt sĩ người Trung Quốc ở Lạng Sơn

Sáng sớm đọc cái tin nghĩ là lại tin vịt cho vui, ai ngờ nhìn tấm hình nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc, phải nó bằng chữ Hoa thì mình còn nghĩ ai đó xuyên tạc "diễn Nôm" nhưng rõ ràng là tiếng Việt. Họ là ai liệt sĩ nào người Trung Quốc mà được chôn trên đất việt trang trọng với hàng chữ "Nghĩa trang liệt sĩ Người Trung Quốc" tại Lạng Sơn, xem có tức không chứ. Người Việt Nam với nhau, chiến sĩ hai bên chết không biết bao nhiêu mà kể, còn mỗi cái nghĩa trang ở Thủ Đức của Việt Nam Cộng Hoà thì bị bỏ phế bao nhiêu thập niên, chỉ có thân nhân họ lén lút chăm sóc. Những nơi khác thì "đào tận gốc, trốc tận mồ" người ta. Trong khi đó thì trang trọng xây nghĩa trang cho kẻ thù.

Cho nên bao giờ chưa có nghĩa trang trang trọng cho những người lính Cộng Hoà xưa thì có lẽ lòng người VN vẫn là những bức tường "Bá Linh", nhất là khi phải thấy những nghĩa trang kiểu thế này trên đất nước VN. Đã thế còn viết công văn mời họ sang dâng hương, mà mời thì lại phải có "chiêu đãi" tốn kém tiền của dân làm những chuyện không sao hiểu nổi. 

Chưa kể bao nhiêu người lính Quân đôi Nhân Dân đã chết để gìn giữ đất nước năm 1979 thì bị chết bờ chết bụi che dấu ở góc xó xỉnh nào đó như bài báo năm nào đã đăng. Không rõ Lạng Sơn có nghĩa trang nào dành riêng cho các chiến sĩ đã chết vì cuộc chiến tranh ấy hay không?

Thứ Hai, 29 tháng 3, 2010

BIỂN ĐÔNG NỔI GIẬN.

Lâu lâu lại nghe một tin gì đó ở Quảng Bình. vùng đất tôi chưa từng đến nhưng nghe rất thân thuộc vì bạn bè tôi có người từ Quảng Bình, cho nên cứ nghe những tin buồn như thế này mà sao không xót xa cho người dân vùng biển. 


( Tin VN ngư dân Quảng Ngãi bị tàu Trung Quốc bắt giam ở đảo Hoàng Sa đòi tiền chuộc. Ngày 16 tháng 3 -2010, ở Quảng Bình 7 ngư dân chết vì tàu Trung Quốc va đụng mạnh và bỏ đi. Người dân Quảng Bình đã lập 1 bàn thờ ngay bờ biển, với mảnh khăn trắng buộc trên 1 cây sào cho những vong hồn xấu số)
              ************ ***
Những con tàu của ngư dân Việt Nam ,
Đã ra khơi giữa trời cao biển rộng,
Làng cá nghèo buồn lo mùa biển động,
Và vui khi biển lặng đón tàu về.
                Cá đầy vơi khoang, bữa đói bữa no,
                Những ngư dân vẫn bám tàu, bám biển,
                Người vợ lam lũ, đàn con nhếch nhác,
                Tóc mẹ gìa trắng như sóng bạc đầu.
Gom từng đồng mua lưới, mua xăng dầu,
Ra biển khơi, người ở nhà mong đợi,
Gío mùa Đông Bắc về tàu đừng lạc lối,
Tàu đừng  chìm vì sóng dữ biển xa.
               Ngư dân Quảng Ngãi không trở về nhà,
               Bị Trung Quốc bắt giam đòi tiền chuộc,
               Tại đảo Hoàng Sa họ đang chiếm đóng,
               Cấm ngư dân Việt đánh cá quanh đây.
Vùng biển Quảng Bình trời cũng nhiều mây,
Không mưa gío mà nghẹn ngào tiếng khóc,
Xã Đức Trạch, Hải Trạch, huyện Bố Trạch,
Bảy người ra khơi mãi mãi không về.
                Tàu Trung Quốc đụng, ngang nhiên bỏ đi,
                Tàu Việt Nam lao đao chìm theo sóng,
                Chỉ kịp gọi về nhà dòng tin ngắn,
                Biển nuôi người nhưng không cứu được người.
Hôm nay bàn thờ lập ở giữa trời,
Bên bờ biển cho những người xấu số,
Mảnh vải trắng buộc trên sào theo gío,
Thay mảnh khăn tang của những người thân.
                Sóng biển đi xa sóng biển về gần,
                Không có con tàu trở về theo sóng,
                Nhũng người thân đã đợi chờ tuyệt vọng,
                Chồng ơi, con ơi !. Hồn ở phương nào?
   Không chỉ Quảng Bình, Quảng Ngãi biết đau,
   Không chỉ người mất chồng, mất con biết khóc,
   Những người Việt Nam khắp nơi thắc mắc,
   Hận kẻ bạo tàn với nỗi đau chung.
                Thương những ngư dân vô tội chết oan,
                Sóng gào thét biển Đông đang nổi giận,
                Tàu lại ra khơi hoang mang lo lắng,
                Ai sẽ bình yên, ai chẳng trở về?

 Nguyễn Thị Thanh Dương

Thứ Năm, 25 tháng 3, 2010

CON CHÁU HAI BÀ TRƯNG TẾ MÃ VIỆN Ở ĐÔNG HƯNG !!!

Người ta gửi cho cái điện thư với tựa đề "hoảng hốt" như trên, theo tôi thấy cứ bình tĩnh, có khi bao nhiêu năm nay mình học sử sai (?) luôn làm lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng, tự hào mình là con cháu Hai Bà, nhưng xem ra có khi không phải, và có khi phải ngưng luôn cái vụ làm lễ tưởng niệm hàng năm cho thiên hạ khỏi bày vẽ đem Hai Bà sang tận Trung Quốc khấu đầu Mã Viện, thế là xong.  Thuả nào con cháu trong nước hãnh diện về một lịch sử oai hùng về hai người phụ nữ, thì ở đâu đó giáp ranh Trung Quôc, lịch sử được vẽ ra một bộ mặt khác.
Thôi từ nay, tôi xin không làm con cháu Hai Bà nữa!.

Lưu trữ

Tự điển



Tự điển Việt Nam
đã được bổ sung những ý nghĩa "chính thức"